vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Bá Th phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Bá Th 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ ngày 14 tháng 3 năm 2025. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Bá Th - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Bá Th phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày 29 tháng 7 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hồng

2. Bà Lê Thị Hoàng Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hoà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 ngày 7 tháng 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2025/TLST-HS ngày 30/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Bá Th, sinh ngày 11/8/1977, tại Gia Lai; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 052077009925, cấp ngày 22/12/2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH, Bộ Công an. Nơi thường trú: Tổ 60, phường An Khê, thành phố Đà Nẵng (Tổ 60 phường Hoà An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng cũ); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông Phan Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị Tr (sinh năm 1945); gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Trần Thị Quý D (sinh năm 1982); có 02 người con, con lớn sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14 tháng 3 năm 2025, hiện đang bị giam (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Hồ Q, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ 105 phường Hoà Khánh, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Huỳnh D, sinh năm: 1964; Địa chỉ: Thôn An Châu, xã Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

+ Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: số 11 Triệu Nữ Vương, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn Nam Thành, xã Hoà Phong, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

+ Ngân hàng TMCP Quốc Dân - Chi nhánh Đà Nẵng; Địa chỉ: 104 Nguyễn Văn Linh, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Trưởng bộ phận xử lý nợ (giấy uỷ quyền số 2363/2025/UQ-BĐH.NCB) (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xe ô tô biển số 43C -135.14 thuộc sở hữu của Công ty TNHH Một thành viên Xây dựng Th Đạt Phát do Phan Bá Th làm Giám đốc. Ngày 25/10/2016, Phan Bá Th thế chấp chiếc xe ô tô trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân - Chi nhánh Đà Nẵng để vay số tiền 650.000.000 đồng, thời hạn vay 6 năm. Do làm ăn thua lỗ nên Phan Bá Th không còn khả năng trả nợ cho Ngân hàng nữa.

Vào ngày 12/4/2020, tại Kiệt 04/14 Tô Hiệu, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (cũ), Phan Bá Th bán xe ô tô nêu trên cho ông Hồ Q với số tiền 350.000.000 đồng. Khi mua bán xe, ông Q biết được xe ô tô này Th đang thế chấp chấp vay tiền tại Ngân hàng và chưa trả hết tiền vay. Do đó, giữa Th và ông Q thống nhất ông Q đưa trước cho Th số tiền 300.000.000 đồng để Th trả hết tiền vay cho ngân hàng lấy giấy tờ xe ô tô về, còn chiếc xe ôtô trên vẫn giao cho Th sử dụng. Th cam kết trong vòng 03 tháng sẽ thanh lý hợp đồng với ngân hàng và lấy giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên về rồi giao xe kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông Q để nhận số tiền còn lại là 50.000.000 đồng. Th viết giấy bán xe và đưa cho ông Q kèm một giấy chứng nhận kiểm định của xe ô tô 43C-135.14 và 01 bản sao giấy đăng ký xe ô tô 43C-135.14 và nhận số tiền 300.000.000 đồng của ông Q. Sau khi có được tiền Th đã đem hết số tiền này trả nợ, sau đó không có khả năng để thanh lý hợp đồng với ngân hàng. Th đã xin ông Q cho gia hạn thời gian để làm thủ tục thanh lý hợp đồng với ngân hàng và ông Q đồng ý.

Đến ngày 03/01/2021, do cần tiền trả nợ, Th đến gặp ông Huỳnh Văn T mượn số tiền là 300.000.000 đồng. Do không có tiền nên Tiến giới thiệu Th đến gặp ông Huỳnh D (là cha ruột của Tiến) để hỏi mượn tiền. Sau đó, Th đã đến nhà ông D hỏi mượn tiền và được ông D cho mượn số tiền 200.000.000 đồng và 01 cây vàng loại vàng 98. Do Th là bạn của Tiến nên ông D yêu cầu Th viết giấy mượn tiền tên người đứng cho mượn tiền là Huỳnh Văn Tiến. Khi mượn tài sản của ông D, Th tự nguyện để lại chiếc xe ô tô 43C-135.14 để làm tin, hẹn ông D đến ngày 03/3/2021 sẽ trả số tiền và vàng mượn này. Sau khi nhận được số tiền từ ông D, Th đã sử dụng số tiền và vàng này đi trả nợ hết. Sau đó, nhiều lần Th xin ông D cho gia hạn thời gian trả nợ và được ông D đồng ý. Đến ngày 30/11/2021, Th đến xin mượn lại ông D chiếc xe ô tô 43C-135.14 để sử dụng, đến tháng 01/2022 Th đem chiếc xe này giao lại cho ông D.

Do không có tiền trả cho ngân hàng để thanh lý hợp đồng vay vốn và lấy giấy đăng ký xe về làm thủ tục bán xe ô tô biển kiểm soát 43C-135.14 cho ông Q nên Th bỏ trốn, chiếm đoạt số tiền này của ông Q. Sau nhiều lần liên lạc với Th không được, đến ngày 18/3/2022, ông Hồ Q làm đơn tố cáo lên Cơ quan Công an.

Đối với ông D, khi không thấy Th đến trả nợ và lấy lại xe, sợ chiếc xe không sử dụng sẽ hư hỏng nên ông D nhờ ông Nguyễn Ngọc Phúc đem về nhà Phúc để bảo dưỡng cho đến khi ông D giao nộp chiếc xe ô tô này cho Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, Phan Bá Th bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu ra Quyết định truy nã. Đến ngày 14/03/2025, khi Th đang làm việc tại công trình xây dựng tại thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì bị Công an thị trấn Đức Hòa bắt truy nã.

Đến ngày 02/4/2025, tổng số tiền Phan Bá Th còn nợ của Ngân hàng TMCP Quốc Dân - chi nhánh Đà Nẵng là 312.417.573 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Phan Bá Th khai nhận hành vi phạm tội của mình

Tại bản kết luận giám định số: 930/KL-KTHS, ngày 17/7/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng thì: Chữ ký, chữ viết mang tên "Phan Bá Th" dưới mục "Người bán xe" trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A1) và chữ ký mang tên "Phan Bá Th" dưới mục "Bên mượn tiền Công ty TNHH MTV XD Th Phát Đạt" của trang 3, dưới mục "Người cam kết" của trang 4 trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết của Phan Bá Th trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra

Tang vật tạm giữ:

- 01 giấy bán xe do ông Phan Bá Th viết ngày 12/4/2020;

- 01 giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ô tô mang biển kiểm soát 43C-135.14, số: KD2928570 do Cơ sở kiểm định số 2 Trung tâm đăng kiểm Đà Nẵng cấp ngày 02/12/2020; 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang biển kiểm soát 43C-135.14; 01 xe ô tô mang biển kiểm soát 43C - 135.14.

- 01 giấy mượn tiền do Phan Bá Th viết ngày 03/01/2021; 01 giấy mượn tiền (hẹn trả nợ) do Phan Bá Th viết ngày 16/4/2021; 01 giấy mượn tiền (hẹn trả nợ) do Phan Bá Th viết ngày 05/10/2021 và 20/10/2021;

- 01 giấy nhận lại xe ô tô do Phan Bá Th viết ngày 30/11/2021;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO A31, kiểu máy CPH2015, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860924054884713 có ốp lưng điện thoại OPPO A31 bằng nhựa màu trắng.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Future, biển số: 82B2 110.86, số máy: JA02E0313774, số khung: RLHJA02061Y313698, màu xanh.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 82 002031. Biển kiểm soát 8282-110.86 do Công an TP Kom Tum cấp ngày 07/09/2022.

- 01 thẻ ngân hàng BIDV, số 9704187327002511392 mang tên Phan Bá Th; 01 ví da nam, màu nâu, kích thước (09x23) cm; Số tiền 193.000 đồng.

Xử lý vật chứng

Đối với các giấy tờ bán xe, mượn tiền hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với xe ô tô 43C-135.14 và 01 giấy chứng nhận đăng ký an toàn kỹ thuật của xe, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Ngân hàng TMCP Quốc Dân để thu hồi nợ là có căn cứ.

Đối với các tài sản còn lại hiện đang tiếp tục tạm giữ chờ kết quả xét xử của Tòa án.

Về dân sự: Gia đình Phan Bá Th đã bồi thường cho ông Hồ Q số tiền 150.000.000 đồng. Trả cho ông Huỳnh D số tiền 180.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, ông Q, D không có yêu cầu gì về dân sự.

Ngân hàng TMCP Quốc Dân hỗ trợ số tiền 6.000.000 đồng cho ông Nguyễn Ngọc Phúc. Sau khi nhận đủ tiền ông Phúc không có yêu cầu gì về dân sự.

* Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 27/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố Phan Bá Th về tội “Lạm dụng tín nhiệm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phan Bá Th. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Phan Bá Th. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Bá Th phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

+ Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phan Bá Th từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập đến

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO A31, kiểu máy CPH2015, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860924054884713 có ốp lưng điện thoại OPPO A31 bằng nhựa màu trắng; 01 ví da nam, màu nâu, kích thước (09x23) cm; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Future, biển số: 82B2 110.86, số máy: JA02E0313774, số khung: RLHJA02061Y313698, màu xanh; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 82 002031. Biển kiểm soát 8282-110.86 do Công an TP Kom Tum cấp ngày 07/09/2022; 01 thẻ ngân hàng BIDV, số 9704187327002511392 mang tên Phan Bá Th đây là tài sản và giấy tờ cá nhân của bị cáo Phan Bá Th nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 193.000 đồng đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho Thi hành án.

. Đối với với các giấy tờ bán xe, mượn tiền hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

- Tại phiên tòa bị cáo Phan Bá Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Bá Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Vào ngày 12/4/2020 tại Kiệt 104/14 Tô Hiệu, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (nay là phường Hoà Khánh, thành phố Đà Nẵng), mặc dù biết được xe ô tô biển kiểm soát 43C-135.14 của Công ty TNHH MTV xây dựng Th Đạt Phát do Phan Bá Th làm Giám đốc đang thế chấp tại Ngân hàng nhưng ông Hồ Q vẫn đồng ý mua và đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng cho Phan Bá Th để Th trả nợ, xóa thế chấp tài sản đối với khoản vay này tại Ngân hàng và thực hiện giao dịch bán xe ô tô trên cho ông Q. Tuy nhiên, khi nhận được tiền thì Phan Bá Th không thực hiện như đã cam kết mà bỏ trốn chiếm đoạt số tiền nêu trên của ông Hồ Q.

Với hành vi nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Bá Th đã phạm vào tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Phan Bá Th là người có đầy đủ nhận thức về pháp luật. Tuy nhiên vì để có tiền tiêu xài và trả nợ bị cáo đã gặp ông Hồ Q để bán xe ô tô biển kiểm soát 43C-135.14 của Công ty TNHH MTV Xây dựng Th Đạt Phát do Phan Bá Th làm Giám đốc đang thế chấp tại Ngân hàng bán cho ông Hồ Q với số tiền 350.000.000 đồng và đã nhận cọc 300.000.000 đồng, sau khi nhận cọc bị cáo đã không thực hiện đúng cam kết mà bỏ trốn.

Hành vi lợi dùng sự tin tưởng để chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng của người bị hại mà bị cáo Phan Bá Th đã thực hiện là hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội và hành vi của bị cáo được quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy cần phải có một mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội cũng là bài học giáo dục răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo Phan Bá Th có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng một án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và còn thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình Phan Bá Th đã bồi thường cho ông Hồ Q số tiền 150.000.000 đồng, ông Hồ Q không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO A31, kiểu máy CPH2015, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860924054884713 có ốp lưng điện thoại OPPO A31 bằng nhựa màu trắng; 01 ví da nam, màu nâu, kích thước (09x23) cm; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Future, biển số: 82B2 110.86, số máy: JA02E0313774, số khung: RLHJA02061Y313698, màu xanh; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 82 002031. Biển kiểm soát 8282-110.86 do Công an TP Kom Tum cấp ngày 07/09/2022; 01 thẻ ngân hàng BIDV, số 9704187327002511392 mang tên Phan Bá Th đây là tài sản và giấy tờ cá nhân của bị cáo Phan Bá Th nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 193.000 đồng tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho Thi hành án.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2025.

- Đối với với các giấy tờ bán xe, mượn tiền hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án gồm: 01 giấy bán xe do Phan Bá Th viết ngày 12/4/2020; 01 giấy mượn tiền do Phan Bá Th viết ngày 30/11/2021; 01 giấy mượn tiền (hẹn trả nợ) do Phan Bá Th viết ngày 16/4/2021; 01 giấy mượn tiền (hẹn trả nợ) do Phan Bá Th viết ngày 05/10/2021; 01 giấy nhận lại xe ô tô do Phan Bá Th viết ngày 30/11/2021 đây là vật chứng vụ án nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

- Đối với: 01 giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ô tô mang biển kiểm soát 43C-135.14, số KD2928570 do Cơ sở kiểm định số 2 Trung tâm đăng kiểm Đà Nẵng cấp ngày 02/12/2020; 01 xe ô tô mang biển kiểm soát 43C-135.14, vào ngày 10/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho Ngân hàng TMCP Quốc Dân theo Quyết định số 906/QĐ-VPCQCSĐT ngày 10/6/2025 nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đề nghị áp dụng áp luật, tội danh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là nặng so với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Ngoài ra trong vụ án này còn có:

Đối với ông Huỳnh D cho Phan Bá Th mượn số tiền 200.000.000 đồng và 01 cây vàng loại vàng 98 vào ngày 03/01/2021. Quá trình điều tra xác định, do có quen biết giữa Phan Bá Th với Huỳnh Văn Tiến (là con ruột ông D) nên ông D cho Th mượn số tiền nêu trên, không tính lãi. Còn việc Th để lại xe ô tô 43C-135.14 làm tin là do Th để lại chứ ông D không có yêu cầu. Khi cho mượn tiền ông D biết được xe này của Th đang thế chấp tại Ngân hàng. Đồng thời quá trình điều tra gia đình ông Th đã thỏa thuận trả hết nợ cho ông D. Sau khi nhận đủ tiền, ông D không có yêu cầu gì về dân sự. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Bá Th phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phan Bá Th 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ ngày 14 tháng 3 năm 2025.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Phan Bá Th: 01 điện thoại di động nhãn hiệu: OPPO A31, kiểu máy CPH2015, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860924054884713 có ốp lưng điện thoại OPPO A31 bằng nhựa màu trắng; 01 ví da nam, màu nâu, kích thước (09x23) cm; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Future, biển số: 82B2 110.86, số máy: JA02E0313774, số khung: RLHJA02061Y313698, màu xanh; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 82 002031. Biển kiểm soát 8282-110.86 do Công an TP Kom Tum cấp ngày 07/09/2022; 01 thẻ ngân hàng BIDV, số 9704187327002511392 mang tên Phan Bá Th.

- Tiếp tục quỹ trữ số tiền 193.000 đồng để đảm bảo cho Thi hành án.

Tất các các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, thành phố Đà Nẵng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, thành phố Đà Nẵng.

- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 giấy bán xe do Phan Bá Th viết ngày 12/4/2020; 01 giấy mượn tiền do Phan Bá Th viết ngày 30/11/2021; 01 giấy mượn tiền (hẹn trả nợ) do Phan Bá Th viết ngày 16/4/2021; 01 giấy mượn tiền (hẹn trả nợ) do Phan Bá Th viết ngày 05/10/2021; 01 giấy nhận lại xe ô tô do Phan Bá Th viết ngày 30/11/2021.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bị cáo Phan Bá Th phải chịu.

4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ