- Tranh chấp gì? án hình sự — "VỪ A C - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HSST Ngày 14 - 8 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử S thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; bà Cầm Thị Tươi
- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sn La tham gia phiên toà: Ông Lầu Bá Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sn La, xét xử S thẩm công khai vụ án hình sự S thẩm thụ lý số: 12/2025/HSST ngày 30 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vừ A C, sinh năm 1961, tại xã Chiềng S, tỉnh Sn La;
Nơi cư trú: Bản Ten Ư, xã Chiềng S, tỉnh Sn La (trước đây là Bản Ten Ư, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; Cn ông Vừ A P (đã chết) và bà Vàng Thị S (đã chết); bị cáo có vợ là Giàng Thị C và 10 Cn; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La xử phạt 36 tháng tù về tội Hủy hoại rừng; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2025 cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ S vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 05/5/2025 tổ công tác Công an thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã Chiềng S, huyện Sông Mã (trước khi sáp nhập) làm nhiệm vụ rà soát, test thử và phòng chống ma tuý tại bản Ten Ư, xã Chiềng S, huyện Sông Mã (nay là bản Ten Ư, xã Chiềng S, tỉnh Sn La). Khi tổ công tác đến nhà của Vừ A C, sinh năm 1961 trú tại bản Ten Ư thì thấy C đang ở nhà, quá trình làm việc C thừa nhận sử dụng ma tuý, vì vậy tổ công tác đã yêu cầu C đem giao nộp các tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, C đã lấy ra một túi nilon màu xanh để giao nộp, qua kiểm tra bên trong chứa 04 viên nén màu hồng, 01 gói nilon màu trắng chứa chất bột liên kết màu trắng (C khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng nghi là ma tuý.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sn La tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vừ A C, kết quả: Không thu giữ gì thêm.
Ngày 05/5/2025 tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sn La, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: 04 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,37 gam đã sử dụng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu C1; số bột liên kết màu trắng có khối lượng là 0,01 gam đã sử dụng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu C2.
Tại bản kết luận giám định số 535/KL ngày 09/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sn La, kết luận:
- Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,01 gam.
- Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,37 gam.
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,01 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; 0,37 gam; loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị cáo Vừ A C khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 08 giờ ngày 05/5/2025 khi C đang đứng trước cổng nhà tại bản Ten Ư, xã Chiềng S, huyện Sông Mã (sau sáp nhập là bản Ten Ư, xã Chiềng S, tỉnh Sn La) thấy một nam thanh niên dân tộc Thái (không rõ danh tính) điều khiển xe mô tô đi qua nên C vẫy dừng lại. Qua nói chuyện người này nói ở xã Nậm Ty, huyện Sông Mã (sau sáp nhập là xã Nậm Ty, tỉnh Sn La) nhưng không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể, C hỏi mua được 04 viên Hồng phiến với một ít Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với số tiền 80.000 đồng từ nam thanh niên này (tiền mua ma túy là do lao động tiết kiệm mà có). Bán ma túy xong thì nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi đâu C không biết, C giấu gói ma túy mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc để sử dụng dần. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi C đang ở nhà thì thấy tổ công tác đi đến, kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ gói ma tuý C đang cất giấu. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sn La tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vừ A C, kết quả: Không thu giữ gì.
Cáo trạng số 16/CT-VKS-KV3 ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sn La đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sn La để xét xử bị cáo Vừ A C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vừ A C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vừ A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Vừ A C từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù;
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị miễn án phí hình sự S thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo Vừ A C không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ S vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ S vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sn La, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sn La), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ S vụ án, thể hiện: Ngày 05/5/2025 bị cáo Vừ A C đã có hành vi tàng trữ 0,37 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,01 gam ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 0,38 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sn La. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sn La truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Vừ A C thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự Ci thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo tuy không có tiền án, tiền sự nhưng đã 01 lần bị kết án. Do đó khi lượng hình cần cân nhắc để có mức án phú hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Thái không rõ tên, địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại bản Ten Ư, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La (Nay là Bản Ten Ư, xã Chiềng S, tỉnh Sn La) vào ngày 05/5/2025. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Vật chứng của vụ án: Đã sử dụng gửi giám định hết, còn lại mảnh nilon được cho vào vỏ phong bì niêm phong ban đầu và lưu trong hồ S.
Về án phí: Bị cáo Vừ A C là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự S thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Vừ A C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vừ A C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2025.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Vừ A C được miễn nộp án phí hình sự S thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2025).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS nhân dân khu vực 3 - Sn La; - Trại giam; - TAND tỉnh Sn La; - Công an tỉnh Sn La; - THAHS; - Phòng THADS khu vực 3 - Sn La; - Lưu: Hồ S vụ án, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |