- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hữu Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/01/2025).
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 06 - 8 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thế Vỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lý Xuyên
2. Ông Nguyễn Văn Quyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực - tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Huỳnh Hữu Đ, sinh ngày: 10 tháng 5 năm 2000, tại: Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn MO, xã ST, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa (nay là: Thôn MO, xã Đ KS, tỉnh Khánh Hòa); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Hữu P (sinh năm: 1970) và bà Phạm Thị H (sinh năm: 1970); Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2025 (có mặt).
Người làm chứng:
1. Ngọc Sơn H, sinh năm: 2005
Nơi cư trú: Thôn TN, xã ST, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa (nay là: Thôn TN, xã ĐKS, tỉnh Khánh Hòa). (vắng mặt)
2. Lê Anh Vũ, sinh năm: 2004
Nơi cư trú: Thôn TN, xã ST, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa (nay là: Thôn TN, xã ĐKS, tỉnh Khánh Hòa). (vắng mặt)
3. Vũ Hoài Sơn, sinh năm: 2005
Nơi cư trú: Thôn LH, xã SB, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa (nay là: Thôn LH, xã KS, tỉnh Khánh Hòa). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 00 ngày 29/01/2025, Huỳnh Hữu Đ rủ nhóm bạn gồm: Lê Anh V, Ngọc Sơn H và Vũ Hoài S đến nhà của Đ tại thôn MO, xã ST, huyện KS để uống bia. Đến khoảng 00 giờ ngày 30/01/2025 thì cả nhóm nghỉ, S một mình ngủ tại giường đặt ở phòng bếp còn Đ, V, H cùng đi vào phòng ngủ của căn nhà. Sau khi vào phòng, Huỳnh Hữu Đ nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã lấy loa cầm tay để mở nhạc và bật đèn Laze chiếu sáng. Đ tiếp tục đi đến kệ bếp để lấy 01 đĩa sứ màu trắng mang vào phòng và lấy ra từ trong ví 01 (một) thẻ ngân hàng (thẻ ATM) của Ngân hàng thương mại cổ phần QĐ mang tên “HUYNH HUU D” và một tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000đ (Hai mươi ngàn đồng). Đ cuộn tờ tiền Polyme trên thành ống hút rồi cố định lại bằng 03 (ba) vỏ đầu lọc thuốc lá. Tiếp theo, Đ lấy từ trong ví của mình 01 (một) túi nilon (túi Zip) kích thước (3,9 x 6,2)cm, bên trong có chứa 04 (bốn) mảnh viên ma túy có chứa các chất MDMA, Ketamine, Methamphetamine để trên nệm và 01 (một) túi nylon (túi Zip) trong suốt, kích thước (3,5 x 04)cm bên trong có chứa ma túy Ketamine, đổ hết vào đĩa sứ rồi dùng thẻ ATM để nghiền nhỏ chuẩn bị sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã ST tiến hành kiểm tra phát hiện sự việc, khi đó H đã lấy túi nilon đựng 04 (bốn) mảnh viên ma túy loại MDMA, Ketamine và Methamphetamine vứt bỏ ra khe thông gió của căn phòng. Công an xã Sơn Trung đã thông báo để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS tiếp nhận, giải quyết. Qua kiểm tra trong cơ thể Huỳnh Hữu Đ, Ngọc Sơn H, Vũ Hoài S, Lê Anh V âm tính với chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 98/2025/KL-KTHS, ngày 04/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:
“Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,3466g (Một phẩy ba bốn sáu sáu gam) loại Ketamine.
Các mảnh viên nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,4313g (Không phẩy bốn ba một ba gam) loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine.
Tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ của mẫu ký hiệu A3 và trong túi nylon của mẫu ký hiệu A4, chất bám dính trên thẻ ATM của mẫu ký hiệu A5 và tờ tiền của mẫu ký hiệu A6 gửi giám định đều là ma túy, không xác định được khối lượng, loại Ketamine”.
Đối với các hành vi khác liên quan trong vụ án :
Đối với nguồn gốc ma túy: Vào ngày 14/10/2024, Đ xuất cảnh đến Philippines (không rõ địa chỉ cụ thể) để tìm việc làm. Tại đây, Đ được một người đàn ông không rõ lai lịch cho lượng ma túy trên. Đ cất giấu số ma túy này trong hộp giấy bạc để trong ví và nhập cảnh về Việt Nam vào ngày 24/01/2025. Sau khi về Việt Nam, Đ trở về sinh sống tại thôn MO, xã ST, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa và cất giấu số ma túy trên nhằm mục đích sử dụng. Không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với người đã cho Đ ma túy.
Đối với hành vi của H: H tuy không được Huỳnh Hữu Đ rủ cùng sử dụng ma túy nhưng H đã có hành vi ném túi nylon có chứa 04 (bốn) mảnh viên nén ma túy có khối lượng 0,4313g (Không phẩy bốn ba một ba gam) loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine ra khe cửa thông gió của căn nhà nhằm tránh sự phát hiện, xử lý của cơ quan Công an. Tuy nhiên, không xác định được khối lượng của từng chất ma túy trong các mảnh viên nén trên. Hành vi của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan có thẩm quyền để xử lý vi phạm hành chính.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Hữu Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu Đ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy
01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 15,5cm, lòng đĩa có in hình văn hoa, lá màu đỏ - vàng; 01 (Một) đèn Laze hình người, màu trắng kích thước (19 x 12)cm; Tinh thể màu trắng có khối lượng 1,0243gam; 01 (một) túi nilon (túi Zip) trong suốt, kích thước (3,5 x 4)cm; 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng MB Bank tên HUYNH HUU DO, số ID 92880339; 01 (một) quẹt lửa màu xanh, kích thước (7,5 x 2)cm, trên thân quẹt có dòng chữ SPECIAL DICE.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước
01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng); 01 (một) loa cầm tay màu trắng, kích thước (25 x 21)cm, có 04 (Bốn) chân đứng, kích thước mỗi chân dài 04 cm, dưới đáy loa có dán tem bằng giấy có thông tin BLUETOOTH SPEAKER, model: MK79; Ragted Voltage: DC3.7V; Rated Power: 15W.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bị cáo Huỳnh Hữu Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo Đ: Bị cáo đã biết ăn năn hối hận về tội lỗi của mình, bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình, trở thành người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS (nay là Viện kiểm sát Khu vực - Khánh Hòa), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Hữu Đ thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Hữu Đ là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên khuya ngày 29/01/2025 rạng ngày 30/01/2025, Huỳnh Hữu Đ đã có hành vi cất giấu 1,3466g (Một phẩy ba bốn sáu sáu gam), loại Ketamine và 0,4313g (Không phẩy bốn ba một ba gam), loại MDMA, Ketamine và Methamphetamine tại nhà của bị cáo tại Thôn MO, xã ST, huyện KS, tỉnh Khánh Hòa.
Tại bản kết luận giám định số: 98/2025/KL-KTHS, ngày 04/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:
“Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có khối lượng 1,3466g (Một phẩy ba bốn sáu sáu gam) loại Ketamine.
Các mảnh viên nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,4313g (Không phẩy bốn ba một ba gam) loại MDMA, Ketamine, Methamphetamine.
Tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ của mẫu ký hiệu A3 và trong túi nylon của mẫu ký hiệu A4, chất bám dính trên thẻ ATM của mẫu ký hiệu A5 và tờ tiền của mẫu ký hiệu A6 gửi giám định đều là ma túy, không xác định được khối lượng, loại Ketamine.
Lời khai của bị cáo Huỳnh Hữu Đ phù hợp với lời khai của người làm chứng Ngọc Sơn H, Lê Anh V, Vũ Hoài S, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định số 98/2025/KL-KTHS, ngày 04/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Khánh Hòa và nội dung bản cáo trạng
Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, chế độ quản lý nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, làm lan truyền nạn nghiện ngập ma túy và các bệnh xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Do đó, cáo trạng số: 06/CT-VKS, ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS (nay là Viện kiển sát nhân dân Khu vực - Khánh Hòa) đã truy tố bị cáo Huỳnh Hữu Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Hữu Đ là nghiêm trọng nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Huỳnh Hữu Đ đã thật thà khai báo, ăn ăn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngày 25/6/2025 bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của bị cáo có đơn xin xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, được UBND xã ST xác nhận nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án bao gồm:
01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 15,5cm, lòng đĩa có in hình văn hoa, lá màu đỏ - vàng.
01 (Một) đèn Laze hình người, màu trắng kích thước (19 x 12)cm.
Tinh thể màu trắng có khối lượng 1,0243gam.
01 (một) túi nilon (túi Zip) trong suốt, kích thước (3,5 x 4)cm.
01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng MB Bank tên HUYNH HUU DO, số ID 92880339
01 (một) quẹt lửa màu xanh, kích thước (7,5 x 2)cm, trên thân quẹt có dòng chữ SPECIAL DICE.
Xét thấy các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng).
+ 01 (một) loa cầm tay màu trắng, kích thước (25 x 21)cm, có 04 (Bốn) chân đứng, kích thước mỗi chân dài 04 cm, dưới đáy loa có dán tem bằng giấy có thông tin BLUETOOTH SPEAKER, model: MK79; Ragted Voltage: DC3.7V; Rated Power: 15W.
Đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Hữu Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Hữu Đ;
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Hữu Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/01/2025).
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng).
+ 01 (một) loa cầm tay màu trắng, kích thước (25 x 21)cm, có 04 (Bốn) chân đứng, kích thước mỗi chân dài 04 cm, dưới đáy loa có dán tem bằng giấy có thông tin BLUETOOTH SPEAKER, model: MK79; Ragted Voltage: DC3.7V; Rated Power: 15W.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 15,5cm, lòng đĩa có in hình văn hoa, lá màu đỏ - vàng. Được niêm phong trong hộp giấy dán kín, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa và chữ ký của những người thực hiện niêm phong.
+ 01 (Một) đèn Laze hình người, màu trắng kích thước (19 x 12)cm. Được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS2A 055121.
+ Tinh thể màu trắng có khối lượng 1,0243gam. Được niêm phong trong bì giấy dán kín, đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa và chữ ký của những người thực hiện niêm phong.
+ 01 (một) túi nilon (túi Zip) trong suốt, kích thước (3,5 x 4)cm. Được niêm phong trong bì giấy đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa và chữ ký của những người thực hiện niêm phong.
+ 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng MB Bank tên HUYNH HUU DO, số ID 92880339. Được niêm phong trong phong bì giấy đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa và chữ ký xác nhận của những người thực hiện niêm phong
+ 01 (một) quẹt lửa màu xanh, kích thước (7,5 x 2)cm, trên thân quẹt có dòng chữ SPECIAL DICE”. Được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS4 2148261.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS, nay là: Phòng Thi hành án dân sự Khu vực - Khánh Hòa).
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Huỳnh Hữu Đ phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Huỳnh Hữu Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Công an tỉnh Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực - Khánh Hòa; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | Huỳnh Thế Vỹ |