vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị O phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị O 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/12/2024. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị O - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị O phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 21- 01- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Di;

2. Ông Phạm Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền, Kiểm sát viên.

Ngày 21/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2024/TLST-HS ngày 25/12/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 07/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đối với bị cáo:

Trần Thị O (Nga), sinh năm 1992; tại tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú: Khu phố 5, thị trấn Liên H, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố 1, thị trấn Liên H, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông không rõ và bà Trần Thị Ch; Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/12/2024; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị Đ (Mót), sinh năm 1975 (vắng mặt)

Nơi thường trú: Khu phố 7, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Khu phố 6, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Trần Thái H (Vinh), sinh năm 1989 (có mặt)

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 1, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Nguyễn Văn B (Lớn), sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 6, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Trương Anh T, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Nơi thường trú: Thôn Bình An 1, xã Tân Bình, thị xã LaGi, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở hiện nay: Khu phố 6, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo cáo trạng: Vào khoảng 02 giờ ngày 20/01/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc một số đối tượng đánh bạc tại nhà bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975 thuộc khu phố 6, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Công an thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong triển khai lực lượng đến hiện trường phát hiện, bắt quả tang bà Trần Thị O, sinh năm 1992, cư trú: khu phố 5, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong; ông Trần Thái H, sinh năm 1989, cư trú: khu phố 1, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong; ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1984, cư trú: khu phố 6, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong; ông Trương Anh T, sinh năm 1994, chỗ ở hiện tại: khu phố 6, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền. Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền 7.040.000 đồng (Bảy triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng), 03 điện thoại di động. Gồm 900.000 đồng trong rổ nhựa màu đỏ (rổ đựng tiền xâu) và 6.140.000 đồng trên chiếu bạc (tại vị trí ngồi của các đối tượng) trong đó tại vị trí ngồi của B 5.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu NOKIA; tại vị trí ngồi của T số tiền 200.000 đồng; tại vị trí ngồi của O số tiền 10.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO; tại vị trí ngồi của H số tiền 430.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO. Thu giữ trên người của Trần Thị O số tiền 1.020.000 đồng; thu giữ trên người Trần Thái H số tiền 11.150.000 đồng. Thu giữ 05 bộ bài tây đã qua sử dụng, 01 cái chăn (mền) là dụng cụ dùng vào việc đánh bạc. Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ ngày 19/01/2024, Trần Thị O, Trần Thái H, Nguyễn Văn B, Trương Anh T đến nhà bà Nguyễn Thị Đ chơi và tổ chức nhậu, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì H, O, B, T rũ nhau chơi đánh bài ăn tiền tại nhà bà Đ. Khi H, O, B, T rũ nhau đánh bạc thì Nguyễn Thị Đ cũng có mặt, do tại nhà không có sẵn bài nên Nguyễn Thị Đ là người trực tiếp đi mua 05 bộ bài, loại bài tây 52 lá rồi lấy 01 cái mền của gia đình trải ra nền nhà cho H, O, B, T đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền. Nguyễn Thị Đ để sẵn số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) loại tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng, 20.000 đồng và 10.000 đồng trong rỗ nhựa màu đỏ nhằm khi người chơi cần tiền lẻ thì tự đổi. Lúc này do O không mang theo tiền nên mượn của Đ 1.000.000 đồng, Đào đồng ý đưa cho Oanh 1.000.000 đồng, sau đó Đ đi vào phòng ngủ. H, O, T, B đánh bạc với nhau dưới hình thức đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền và quy ước cứ chơi được 10 ván bài thì đổi bài một lần và bỏ xâu 10.000 đồng, tới trắng (thưởng) thì bỏ xâu 30.000 đồng, giết ngộp một nhà bỏ xâu 10.000 đồng, hai nhà thì bỏ xâu 20.000 đồng, ba nhà thì bỏ xâu 30.000 đồng. Tiền bỏ xâu là do người thắng ván bài đó (tới nhất ván bài thứ 10, tới trắng, giết ngộp) bỏ vào rỗ nhựa màu đỏ, sau khi kết thúc thì Nguyễn Thị Đ sẽ lấy số tiền sâu đựng trong rổ nhựa màu đỏ.

Hình thức chơi bài tiến lên như sau:

Đối với bài tiến lên 04 người chơi: Loại bài sử dụng là bài tây 52 lá, một trong bốn người chơi có một người đứng ra chia bài, chia hết bài cầm trên tay đều cho mỗi người 13 lá bài, người nào trên tay có lá bài “3 bích” được quyền thì đánh trước, trong bốn người chơi người nào đánh hết số bài cầm trên tay trước (Tới nhất) thắng số tiền 20.000đ, người đánh hết thứ hai (Về nhì) thắng số tiền 10.000đ, người nào về thứ ba (thua nhì) thua số tiền 10.000đ, người về cuối cùng (về chót) thua số tiền 20.000đ. Nếu người về chót còn tồn heo (lá 2) trên tay thì người tới ba sẽ bắt heo nếu bắt đúng heo sẽ được số tiền tương ứng với heo đỏ 20.000 đồng, heo đen 10.000 đồng nếu bắt sai thì phải trả số tiền tương ứng cho người về chót; trong ván bài người nào bị ăn heo (người ra heo bị người chơi cùng dùng ba đôi thông, tứ quý hoặc bốn đôi thông bắt heo) thì phải thua số tiền tương ứng với heo đỏ thì thua 20.000 đồng, bị ăn heo đen thua 10.000 đồng và ngược lại người nào ăn được heo thì thắng số tiền tương ứng; nếu sau khi phát bài mà bài người nào có một trong các bộ: tứ quý 2 (heo), sáu đôi, năm đôi thông hoặc bài có sảnh từ ba tới xì (ác) thì được thưởng (tới trắng) ba nhà còn lại mỗi nhà thua 20.000 đồng; trong ván bài khi có nhà tới nhất (hết bài trên tay) mà người chơi nào chưa đánh được cây bài nào gọi là giết ngộp (cháy) thì người bị giết ngộp phải thua số tiền 40.000 đồng, nếu bài bị giết ngộp có 2 (heo) thì tính mỗi con heo đỏ 20.000 đồng, heo đen 10.000 đồng.

Số tiền Trần Thái H, Trần Thị O, Nguyễn Văn B và Trương Anh T sử dụng vào mục đích đánh bạc và tỷ lệ thắng thua như sau:

Trần Thị O mang theo số tiền 1.020.000 đồng để đánh bạc, trong quá trình đánh O thắng được 10.000 đồng.

Trần Thái H mang theo số tiền 14.490.000 đồng trong đó 11.000.000 đồng là tiền hàng của Lưu Thị H nhờ H lấy dùm không sử dụng vào mục đích đánh bạc, 3.490.000 đồng là tiền mang theo dùng vào mục đích đánh bạc, trong quá trình đánh bạc H thua 2.910.000 đồng.

Nguyễn Văn B mang theo số tiền 2.700.000 đồng để đánh bạc, trong quá trình đánh B thắng được 2.800.000 đồng.

Trương Anh T mang theo số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, trong quá trình đánh T thua 300.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị Đ, Trần Thái H, Trần Thị O, Nguyễn Văn B và Trương Anh T đánh bạc là 7.040.000 đồng (thu giữ trên chiếu bạc) + 1.020.000 đồng (thu giữ trên người Trần Thị O) + 150.000 đồng (thu giữ trên người Trần Thái H) = 8.210.000 đồng.

Đối với bị can Trần Thị O trong quá trình truy tố đã bỏ đi khỏi địa

phương, hiện nay không biết O ở đâu nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với bị can Trần Thị O và ra yêu cầu truy nã đối với O. Ngày 03/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong đã ra Quyết định truy nã số 943 đối với Trần Thị O. Đến ngày 19/12/2024 Oanh đã bị bắt theo Quyết định truy nã. Về tang vật chứng:

Đã được xử lý tại Bản án số 72/2024/HSST ngày 05/8/2024 của Tòa án

nhân dân huyện Tuy Phong nên không xem xét, giải quyết.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTP-HS ngày 25/12/2024 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Trần Thị O về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Trần Thị O phạm tội: “Đánh bạc”; áp dụng: khoản 1

Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị O từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 72/2024/HSST ngày

05/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong nên không xem xét, giải quyết.

- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng

đã nêu là đúng, không oan; không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo biết mình sai đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, những người làm chứng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn B, ông Trương Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; những người này đã có lời khai tại hồ sơ. Việc vắng mặt họ tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Sau khi nghe ý kiến của bị cáo và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giải quyết vụ án vắng mặt họ.

Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người làm chứng, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; đủ cơ sở để kết luận: khoảng 02 giờ ngày 20 tháng 01 năm 2024 tại nhà của Nguyễn Thị Đ thuộc khu phố 06, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, do Nguyễn Thị Đ, Trần Thái H, Trần Thị O, Nguyễn Văn B và Trương Anh T thống nhất ý chí đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền với nhau với tổng số tiền 8.210.000 đồng. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo cố ý thực hiện. Do đó hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ nên khi quyết định hình phạt cần xác định rõ vai trò tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Trong vụ án đã khởi tố, truy tố, xét xử Nguyễn Thị Đ, Trần Thái H, Nguyễn Văn B và Trương Anh T.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, trong quá trình truy tố đã bỏ đi khỏi địa phương; Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã bị cáo; ngày 19/12/2024 bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã. Vì vậy cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về xử lý vật chứng: Các vật chứng đã được xử lý tại Bản án số 72/2024/HSST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị O phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị O 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/12/2024.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Thị O phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ