- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Hữu Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hữu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 20- 01 -2025. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ
Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Quân Thu Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 354/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Hữu Th, sinh năm 1995 tại thành phố H. Nơi thường trú: Ấp B1, xã B, huyện C, thành phố H; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Th1 và bà Phan Thị B (chết); có vợ là Tạ Thị Kim Ng, có 02 con ( lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022).
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 18/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Huỳnh Hữu Th đi xe ôm từ nhà trọ ở ấp 2, xã K, huyện N, tỉnh Đ đến khu vực gần Đình P thuộc P, huyện B, thành phố H gặp một người tên thường gọi là “Ba” (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy đá (loại Methamphetamine) để sử dụng. Đến 18 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, Th mang gói ma túy đến nhà người bạn tên Lê M tại ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đ chơi thì bị Công an xã V tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ trong túi quần của Th 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước là 05cm x 2 cm có chứa các hạt tinh thể màu trắng.
* Tại kết luận giám định số 1874/KL-KTHS, ngày 26/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1579gam, loại Methamphetamine.
* Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS-NT ngày 19/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đ truy tố bị cáo Huỳnh Hữu Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
* Tại phiên tòa xét xử, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Huỳnh Hữu Th về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu Th từ 18 đến 20 tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 1874/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ).
Sau khi nghe xong bản luận tội, bị cáo Huỳnh Hữu Th không có ý kiến gì và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
.Về trách nhiệm hình sự: Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, tại ấp T, xã V, huyện N, tỉnh Đ, Huỳnh Hữu Th đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,1579 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đ thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội, từ đó có đủ căn cứ và cơ sở ác định hành vi của bị cáo Huỳnh Hữu Th cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy cáo trạng số 07/CT-VSK.NT ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
.Về nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Huỳnh Hữu Th chưa có tiền án, tiền sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do Huỳnh Hữu Th thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn sử dụng cho cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện sự em thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Th đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng ét ử ét thấy:
- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng 0,1235 gam đ được niêm phong số 1874/KL-KTHS) là tang vật vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với người tên thường gọi là “Ba” đ có hành vi bán ma túy cho Th hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục ác minh, điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Huỳnh Hữu Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Huỳnh Hữu Th là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hữu Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2024.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định (có khối lượng 0,1235 gam đ được niêm phong số 1874/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ).
Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đ trong niêm phong số 1874/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2024; tình trạng vật chứng: phong bì còn nguyên dấu niêm phong.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc Huỳnh Hữu Th phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Đ; -VKSND tỉnh Đ; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Thi hành án; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |