- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Oanh - Nguyễn Doãn Bằng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày 17-01-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý
Ông Hoàng Đức Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 343/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố 6, Kiền Bái, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Doãn B, sinh năm 1992; nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 6, Kiền Bái, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố 7, Kiền Bái, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 11 tháng 11 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị O trình bày:
Chị Nguyễn Thị O kết hôn với anh Nguyễn Doãn B trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kiền Bái (nay là phường Lê Hồng Phong), thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 02 tháng 5 năm 2019. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh B mải chơi, chị O đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh B không thay đổi dẫn đến cuộc sống chung vợ chồng ngày càng căng thẳng, thường xuyên cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn giữa chị và anh B đã được gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị O nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Doãn B. Chị và anh Nguyễn Doãn B có 02 con chung là Nguyễn Doãn B.A, sinh ngày 03/12/2019; Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 16/01/2023. Khi ly hôn chị O xin được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tuệ N, để anh B trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Doãn B.A. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị O và anh B tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị và anh B không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Doãn B có nơi cư trú tại Tổ dân phố 7, Kiền Bái, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Doãn B không hợp tác, cố tình trốn tránh. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác cho anh Nguyễn Doãn B nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Nguyễn Doãn B vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Nguyễn Thị O.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B. Giao con chung tên Nguyễn Doãn B.A, sinh ngày 03/12/2019 cho anh Nguyễn Doãn B và giao con chung tên Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 16/01/2023 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung các đương sự không yêu cầu nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao căn cước công dân, bản sao giấy khai sinh của con; bản photo sổ hộ khẩu, xác nhận thông tin cư trú, Bản tự khai; Biên bản làm việc, Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Doãn B cư trú tại Tổ dân phố 7, Kiền Bái, phường Lê Hồng Phong, thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị O có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Doãn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong lao động làm ăn kinh tế nên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn hiện vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Doãn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh B đều vắng mặt không có lý do, thể hiện anh B không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị O và không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Nguyễn Doãn B.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B có 02 con chung tên Nguyễn Doãn B.A, sinh ngày 03/12/2019; Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 16/01/2023. Khi ly hôn chị O xin được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tuệ N, để anh Nguyễn Doãn B trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Doãn B.A. Xét con chung tên Nguyễn Tuệ N hiện đang do chị O chăm sóc nuôi dưỡng, con chung tên Nguyễn Doãn B.A đang do anh B trực tiếp nuôi dưỡng và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, cháu Nguyễn Tuệ N hiện dưới 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giữ nguyên tình trạng nuôi con như hiện nay, giao cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Tuệ N, giao cho anh Nguyễn Doãn B trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Doãn B.A cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O khai chị và anh Nguyễn Doãn B không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án anh B không trình bày quan điểm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Doãn B.A, sinh ngày 03/12/2019 cho anh Nguyễn Doãn B trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung tên Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 16/01/2023 cho chị Nguyễn Thị O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B tự thỏa thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010196 ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên. Chị Nguyễn Thị O đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Doãn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Thuỷ Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thuỷ Nguyên; - UBND phường Lê Hồng Phong, thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 02/5/2019); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hà |