- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cún Sây Mỹ D và Nìm A Q"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị C1.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31-3-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Xích Thị Bích Nhi, bà Táo Thị Mộng Quyên.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung – Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự về hôn nhân gia đình thụ lý số 325/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2025, theo Quyết định Hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cún Sây Mỹ D, sinh năm 2000 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khu dân cư A, Ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nìm A Q, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Cún Sây Mỹ D trình bày: Chị Cún Sấy Mỹ D1 và anh Nìm A Q sau thời gian tự nguyện tìm hiểu thì đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2019 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Ninh, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Anh Q không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo làm ăn nên kinh tế gia đình ngày càng khó khăn từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn dần đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng mâu thuẫn không giảm mà ngày càng trầm trọng. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn qua lại tìm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị D1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D1 làm đơn gửi Tòa án yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Chị D1 và anh Q có 03 con chung tên Nìm Tuệ N, sinh ngày 10/9/2018, Nìm Như Ý, sinh ngày 04/9/2019 và Nìm Tuấn K, sinh ngày 23/3/2021. Hiện nay Nìm Như Ý, sinh sống cùng với chị D1, Nìm Tuấn K và Nìm Tuệ N đang sống cùng với anh Q. Chị D1 yêu cầu nuôi Nìm Như Ý, giao Nìm Tuấn K và Nìm Tuệ N cho anh Q nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị D1 khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh N1 A Quay vắng mặt: Tòa án đã tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng, tạo điều kiện để anh Q và chị D1 hàn gắn tình cảm gia đình nhưng anh Q không có ý kiến và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Đối với Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Hội đồng xét xử đúng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ tại hồ sơ thể hiện mâu thuẫn giữa chị D1 và anh Q đã thật sự trầm trọng, anh Q và chị D1 không thương yêu, chia sẻ giúp đỡ chăm sóc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân. Hơn nữa, quá trình chung sống anh Q đã không làm tròn nghĩa vụ của người chồng, không quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ chị D1 để cùng nhau chăm sóc gia đình, con cái. Vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, chứng tỏ hôn nhân của chị D1, anh Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cún S Mỹ Duyên về việc ly hôn với anh Nìm A Q; về con chung: Giao con chung tên Nìm Như Ý, sinh ngày 04/9/2019 cho chị Cún S Mỹ Duyên trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung tên Nìm Tuệ N, sinh ngày 10/9/2018 và Nìm Tuấn K, sinh ngày 23/3/2021 cho anh N1 A Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không ai được cản trở quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn của Cún Sây Mỹ D và anh Nìm A Q. Không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Cún Sây Mỹ D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nìm A Q, anh Q có hộ khẩu thường trú tại huyện B, tỉnh Bình Thuận nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cún Sây Mỹ D và Anh Nìm A có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12 ngày 22/02/2019 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của chị D và anh Q là hợp pháp.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn Cún Sây Mỹ D và bị đơn Nìm A Q: Chị Cún Sây Mỹ D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nìm A Q vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định. Căn cứ điểm điểm a, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Cún Sây Mỹ D trình bày trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Anh Q không có trách nhiệm với gia đình, không chăm lo làm ăn nên kinh tế gia đình ngày càng khó khăn từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn dần đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng mâu thuẫn không giảm mà ngày càng trầm trọng. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không còn qua lại tìm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q. Hội đồng xét xử thấy rằng: Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau, phải có nghĩa vụ chung sống với nhau nhưng thực tế cuộc sống hôn nhân của chị D, anh Q không còn hạnh phúc, anh chị không còn quan tâm, tôn trọng, tin tưởng, giúp đỡ nhau nên hạnh phúc gia đình ngày càng rạn nứt, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không ai còn quan tâm đến ai và thực tế anh chị đã tự sống xa nhau từ năm 2022 cho đến nay, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh chị không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù, mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra một thời gian dài nhưng vợ chồng chị D, anh Q không ai có thiện chí hòa giải đoàn tụ nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng, anh Q không có ý kiến gì và luôn vắng mặt tại các buổi Tòa án triệu tập, hòa giải chứng tỏ anh Q cũng không còn thiết tha hàn gắn tình cảm gia đình với chị D. Trong biên bản xác minh tại thôn H, xã H xác định vợ chồng không còn chung sống với nhau như chị D trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cún S Mỹ Duyên đối với anh Nìm A Q.
Về con chung: Chị Cún Sây Mỹ D và anh Nìm A Q có ba con chung là Nìm Tuệ N, sinh ngày 10/9/2018, Nìm Như Ý, sinh ngày 04/9/2019 và Nìm Tuấn K, sinh ngày 23/3/2021. Chị D yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nìm Như Ý, sinh ngày 04/9/2019. Giao con chung tên Nìm Tuệ N, sinh ngày 10/9/2018 và Nìm Tuấn K, sinh ngày 23/3/2021 cho anh N1 A Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của chị D, Hội đồng xét xử, thấy rằng việc giao con chung cho ai nuôi phải đảm bảo đời sống của con được ổn định, nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất, không làm xáo trộn cuộc sống cũng như sinh hoạt của con chung. Hơn nữa, qua lời khai của nguyên đơn và xác minh tại chính quyền địa phương xác định hiện nay cháu K và N hiện đang do anh Q chăm sóc nuôi dưỡng, đảm bảo các điều kiện để phát triển toàn diện. Do đó để đảm bảo sự ổn định về sinh hoạt, học tập, tạo điều kiện tốt nhất cho các con được phát triển toàn diện nên tiếp tục giao cho chị D chăm sóc nuôi dưỡng cháu Ý, anh Q tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu K và N là phù hợp.
Về phương thức cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng: Chị D, anh Q không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án dù đã được giải thích quyền được yêu cầu cấp dưỡng của người trực tiếp nuôi dưỡng con nhưng chị D vẫn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung trên cơ sở lợi ích của con chung, khi cần thiết chị D, anh Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cún Sây Mỹ D, anh Nìm A Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Xét ý kiến trình bày của các đương sự, cũng như quan điểm đề nghị tại Tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận về việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, con chung là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Cún S Mỹ Duyên phải chịu 300.000 đồng án phí về việc yêu cầu xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị C1.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cún Sây Mỹ D được ly hôn với anh Nìm A Q.
Về con chung: Chị Cún Sây Mỹ D nuôi dưỡng con chung tên Nìm Như Ý, sinh ngày 04/9/2019. Giao con chung tên Nìm Tuệ N, sinh ngày 10/9/2018 và Nìm Tuấn K, sinh ngày 23/3/2021 cho anh N1 A Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Cún Sây Mỹ D, anh N1 A Q không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Chị Cún Sây Mỹ D và anh N1 A Q có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Chị Cún Sây Mỹ D và anh N1 A Q được quyền thăm non con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Trên cơ sở lợi ích của con chung, khi cần chị C Sây Mỹ D, anh Nìm A Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cún Sây Mỹ D, anh Nìm A Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Chị Cún Sây Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 đồng theo biên lai số 0009053 ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, chị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nìm A Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Cún Sây Mỹ D, anh Nìm A Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự Bắc Bình; - Ủy ban nhân dân xã Hải Ninh, huyện Bắc Bình (GCN kết hôn số 12, ngày 22/02/2019) - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Ngọc |