vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Hà Văn T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hà Văn T. 2 Về con chung: Giao 02 con chung tên Hà Quang T1, sinh ngày 18/5/2012 và Hà Quang P, sinh ngày 01/01/2017 cho bà Nguyễn Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Hà Văn T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2025
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Mỹ Tho

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hồng Sơn

2. Bà Trần Thị Mộng Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 318/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, có mặt

Địa chỉ: Số nhà D đường V, tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh).

Địa chỉ hiện nay: Tổ A, ấp H, xã L, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1985, vắng mặt

Địa chỉ: Số nhà D đường V, tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện chung sống vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 402 ngày 23/11/2011. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống trong công việc làm ăn dẫn đến bị thua lỗ, nợ nần nên vợ chồng xảy ra cãi vã. Khoảng từ tháng 4/2025 đến nay vợ chồng ly thân, không còn sống chung nhà nữa.

Nay bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Hà Quang T1, sinh ngày 18/5/2012 và Hà Quang P, sinh ngày 01/01/2017. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Hà Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà H được ly hôn với ông T. Về con chung: Giao 02 con chung tên Hà Quang T1, sinh ngày 18/5/2012 và Hà Quang P, sinh ngày 01/01/2017 cho bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có địa chỉ tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh). Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh).

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Hà Văn T được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện chung sống vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 402 ngày ngày 23/11/2011 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H thì thấy:

Theo bà H trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2023 đến nay thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống liên quan đến công việc làm ăn, vợ chồng không có sự chia sẻ, đồng cảm với nhau. Do vậy bà H làm đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Hà Văn T

Theo kết quả xác minh của Tòa án cho thấy: Ông T đang sinh sống tại địa chỉ: Số nhà D đường V, tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên hiện nay, không thấy bà H sống cùng ông T tại địa chỉ trên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải để bà H và ông T đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, phía ông T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến chứng tỏ ông T không có thiện chí hòa giải, còn phía bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông T.

Từ những phân tích trên, nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung tên Hà Quang T1, sinh ngày 18/5/2012 và Hà Quang P, sinh ngày 01/01/2017. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của bà H và kết quả xác minh cho thấy hiện 02 con chung đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và nguyện vọng của 02 con chung đều muốn được ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án ông T cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 con chung cho bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng: Do bà H không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Hà Văn T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hà Văn T.

1.2 Về con chung: Giao 02 con chung tên Hà Quang T1, sinh ngày 18/5/2012 và Hà Quang P, sinh ngày 01/01/2017 cho bà Nguyễn Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003986 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (này là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh). Bà H đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ