- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Nguyễn Thị Ngoan và Trân Văn Tâm"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST; Ngày: 06/01/2025. V/v tranh chấp“Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thủy Uyên;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hoàng Hoa;
2. Ông Nguyễn Văn Bé;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ái Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 417/2024 TL T-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 214 2024 QĐ T-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991;
Địa chỉ: ấp PH, xã TH, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1992;
Địa chỉ: ấp PH, xã TH, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
(Chị N và anh T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T1 tự nguyện cưới nhau và sống chung từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hòa, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù anh chị cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành công, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh chị
- 2 -
không còn sống chung, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay không còn tình cảm nên chị xin được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Nguyễn Nhật T2, sinh ngày 19/6/2013 và Trần Ngọc Gia H, sinh ngày 20/7/2021 hiện đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị vắng mặt ngày 26/11/2024, bị đơn anh Trần Văn T1 vắng mặt không lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, trừ bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về nội dung, yêu cầu của chị Nguyễn Thị N về việc xin ly hôn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung tên Trần Nguyễn Nhật T2, sinh ngày 19/6/2013 và Trần Ngọc Gia H, sinh ngày 20/7/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T1 nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T1 cư trú tại ấp PH, xã TH, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 26 11 2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn T1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị N và anh T1.
Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử xét thấy:
- 3 -
[3.1] Về hôn nhân: Chị N và anh T1 cưới nhau năm 2012, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hòa, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị N xin ly hôn với anh T1 với lý do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù anh chị cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành công, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh chị không còn sống chung, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tòa án đã triệu tập anh T1 nhiều lần để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng anh vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho thấy anh T1 không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa hai người. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T1 đã trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung Trần Nguyễn Nhật T2, sinh ngày 19 6 2013 và Trần Ngọc Gia H, sinh ngày 20 7 2021 hiện đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Xét thấy hai con đang sống với chị N đã ổn định về chỗ ở và điều kiện sinh hoạt, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T2 là muốn sống cùng mẹ. Anh T1 không có văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T2 và cháu H cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
- 4 -
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trần Văn T1.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Nhật T2, sinh ngày 19 6 2013 và Trần Ngọc Gia H, sinh ngày 20/7/2021 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu.
Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0007900 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên xem như chị đã nộp xong.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. .
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh - VK ND huyện Chợ Gạo; - CQ thực hiện việc đăng ký kết hôn; - THAD huyện Chợ Gạo; - Các đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Thủy Uyên |