vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Minh N ly hôn anh Trần Hải N.

Về nuôi con: Giao cho chị Trương Thị Minh N trực tiếp nuôi dưỡng con Trần Uyên N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2023 cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Anh Trần Hải N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Minh N ly hôn anh Trần Hải N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỤ BẢN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17/4/2025
Về việc ly hôn và tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đình Mạnh.

Bà Trần Thị Định.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Thanh Thảo, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: ông Đỗ Mạnh Hùng, là Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Trương Thị Minh N, sinh năm 1992.

2. Bị đơn: anh Trần Hải N, sinh năm 1988.

Cùng nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện V, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa, chị N và anh N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trương Thị Minh N trình bày:

Chị N và anh Trần Hải N nguyện kết hôn với nhau vào ngày 08 tháng 11 năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị N và anh N hiện nay đang sống ly thân với nhau, mỗi người một nơi và không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa. Nay chị N xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được và thời gian vợ chồng sống ly thân đã lâu và không còn liên lạc gì với nhau nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Giữa chị N và anh N có một con chung tên là Trần Uyên N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2023. Hiện nay, con đang ở với mẹ, sau ly hôn, chị N có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản, nợ chung và những vấn đề khác có liên quan: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Trần Hải N: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng và không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Chị N và anh N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 11 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện V. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024, không còn quan tâm đến nhau, như vậy mục đích của hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho ly hôn giữa chị N ly hôn anh N. Về con chung: Giữa hai người có một con chưa thành niên tên là Trần Uyên N hiện tại con đang sinh sống ổn định cùng với mẹ, chị N có đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Vì vậy, cháu N giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Về tài sản, nợ chung chị N không yêu cầu giải quyết. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: chấp nhận đơn khởi kiện, xử cho chị N ly hôn anh N. Về con chung: giao cháu Trần Uyên N cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Hải N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyệt. Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh N.

Về hôn nhân: Giữa chị N và anh N kết hôn với nhau tự nguyện, đã đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 11 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân H, huyện V, tỉnh Nam Định theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Đời sống vợ chồng giữa chị N và anh N không hạnh phúc, hai người đã sống ly thân không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với nhau nữa. Xét thấy, chị N và anh N đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc giải quyết cho chị N ly hôn anh N là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con: Giữa chị N và anh N có một con chung chưa thành niên tên là Trần Uyên N hiện tại đang ở với mẹ. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cho chị quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Quá trình giải quyết vụ án, anh N đã nhiều lần được báo gọi đến Tòa án làm việc, để thể hiện quan điểm của mình nhưng anh N không đến và không có ý kiến gì về việc nuôi con. Căn cứ quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, con chung sẽ được giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

Về tài sản, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh N vắng mặt, không có ý kiến về việc giải quyết tài sản, nợ chung. Do vậy, về tài sản, nợ chung không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Chị N có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị N và anh N có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Trương Thị Minh N ly hôn anh Trần Hải N.

2. Về nuôi con: Giao cho chị Trương Thị Minh N trực tiếp nuôi dưỡng con Trần Uyên N, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2023 cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động.

Anh Trần Hải N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con và trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Trương Thị Minh N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000986 ngày 12 tháng 02 năm 2025, chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Minh N và anh Trần Hải N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ