vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Đỗ Phi H tranh chấp ly hôn, nuôi con chung với chị Trần Như Ý"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15/01/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Văn Hoàn.

2/ Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 510/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/12/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đỗ Phi H, sinh năm 1991 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Chị Trần Như Ý, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đỗ Phi H trình bày:

Tôi và chị Trần Như Ý do quen biết nhau, tìm hiểu khoảng 5 tháng thì kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 25/11/2019. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc, ổn định. Đến tháng 3/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ tôi quen với người đàn ông khác, tôi bắt gặp vợ tôi có hành động thân mật với người đàn ông khác. Tôi có nói sự việc này cho chị Ý biết và chị Ý có ý kiến nếu tôi làm quá sẽ bỏ nhà đi rồi chị Ý bỏ nhà đi từ ngày 20/3/2024. Từ đó đến nay chúng tôi không liên lạc gì với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu ly hôn với chị Ý.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đỗ Trần Khánh V, sinh ngày 18/4/2020. Ly hôn, tôi yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung do cháu V sinh sống cùng với tôi từ lúc chị Ý bỏ đi đến nay, không yêu cầu chị Ý cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Trần Như Ý đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến về vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Ý đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến dự phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh H có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh H, chị Ý.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện, anh H yêu cầu được ly hôn với chị Ý, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Ý có nơi cư trú tại thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh H và chị Ý kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B (nay là thị trấn B), huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 25/11/2019 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Anh H trình bày mâu thuẫn vợ chồng anh bắt đầu phát sinh từ đầu năm 2024, nguyên nhân mâu thuẫn do chị Ý quen với người đàn ông khác, anh H bắt gặp và có nói sự việc này với chị Ý, chị Ý có ý kiến nếu anh H làm quá sẽ bỏ nhà đi và chị Ý bỏ nhà đi từ ngày 20/3/2024. Từ đó đến nay anh H và chị Ý sống ly thân, không liên lạc gì với nhau.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh H và chị Ý đã phát sinh từ tháng 3/2024, anh H và chị Ý ly thân từ tháng 3/2024 đến nay, từ lúc ly thân anh chị cũng không còn liên lạc gì với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án anh H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Chị Ý mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Từ các phân tích trên chứng tỏ chị Ý đã không còn tha thiết với cuộc sống vợ chồng cùng với anh H.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng anh H và chị Ý không còn quan tâm, tin tưởng nhau, không cùng nhau chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nên mâu thuẫn gia đình giữa anh H và chị Ý đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của anh H là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình sống chung anh H và chị Ý có một con chung là cháu Đỗ Trần Khánh V, sinh ngày 18/4/2020. Ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V. Xét thấy từ lúc anh H và chị Ý ly thân đến nay cháu V do anh H trực tiếp nuôi dưỡng do đó để đảm bảo môi trường sống ổn định cho cháu V cần tiếp tục giao cháu V cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu chị Ý cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H, chị Ý không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Phi H.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Phi H được ly hôn với chị Trần Như Ý.

2/ Về con chung: Giao cháu Đỗ Trần Khánh V, sinh ngày 18/4/2020 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Ý chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh H chưa yêu cầu.

Chị Ý có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3/ Về án phí: Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai thu số 0016979 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên anh H đã thi hành xong án phí.

4/ Về quyền kháng cáo: Anh Hùng, chị Ý được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ