- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/01/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Thanh Hải
2. Ông Lò Văn Trực
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân-Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh-Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị D, sinh năm: 1984
Trú tại: Thôn Q, xã Th, huyện B, Thanh Hóa;
Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hà Văn Đ, sinh năm: 1988
Trú tại: Thôn Q, xã Th, huyện B, Thanh Hóa;
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2024, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị D trình bày: Chị và anh và anh Đ tự do tìm hiểu trong khoảng 06 tháng, tự nguyện kết hôn, cưới theo tập quán từ đầu năm 2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Th ngày 29/10/2013. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều bất đồng, không hòa hợp được về tính cách và quan điểm sống, anh Đ là người chống nhưng không chăm lo được cho gia đình, không lo lắng được cho vợ con, mọi việc trong nhà mình chị gánh vác. Do mâu thuẫn nên chị đi làm và không về chung sống với anh Đ từ năm 2022 cho đến nay, khi nào anh Đ đi làm thì chị về thăm con, anh Đ có nhà thì chị không về, vợ chồng tránh mặt nhau, quá trình ly thân vợ chồng không liên hệ, không hòa giải đoàn tụ, chị chỉ gọi điện cho cô giáo của con để quan tâm việc học hành của con. Nay chị xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, bản thân chị không còn tình cảm với anh Đ nên có nguyện vọng được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Hà Thị Trà M, sinh ngày 23/11/2013. Hiện đang học lớp 6 và đang ở với ông bà nội. Ly hôn chị giao con cho anh Đ nuôi con và chị cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Còn việc học hành, quần áo, sinh hoạt của con chị vẫn chăm lo bình thường, vẫn đóng góp cho cháu đầy đủ, chị không bỏ con của mình.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã trực tiếp đến gia đình anh Đ xác minh và giao nhận văn bản nhưng anh Đ không đến tòa án làm việc, chị D đề nghị không tiến hành hoà giải. Vì vậy vụ án thuôc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh Đ không đến làm việc. Anh Đ cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị D đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa chủ tọa phiên tòa cho công bố đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn và toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Căn cứ điều 227, 228, 238 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238 BLTTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị D, xử cho chị D được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Giao cháu Hà Thị Trà M, sinh ngày 23/11/2013 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị D cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Trà M đủ tuổi thành niên. Chị D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm.
Về tài sản, công nợ: Chị D không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu ở huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc TAND huyện B được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai dù đã được tống đạt hợp lệ. Vì vậy, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị D và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th ngày 29/10/2013 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do mâu thuẫn nên từ năm 2022 cho đến nay chị đã ly thân với anh Đ, quá trình ly thân chị tránh mặt anh Đ, vợ chồng không còn liên hệ gì với nhau, việc này phù hợp với biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của Tòa án. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày một trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị D được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là Hà Thị Trà M, sinh ngày 23/11/2013. Vợ chồng ly hôn chị D có nguyện vọng giao cháu Trà M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng tiền nuôi cháu Trà M mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi cháu thành niên. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không có văn bản thể hiện nguyện vọng của mình về vấn đề con chung khi ly hôn, tuy nhiên quá trình Tòa án đi xác minh thể hiện hiện nay cháu Trà M đang ở với anh Đ và ông bà nội, cháu Trà M cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với bố vì vậy ly hôn giao cháu Trà M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị D cấp dưỡng tiền nuôi cháu Trà M mỗi tháng1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu thành niên là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, nguyện vọng của con chung và các quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D được ly hôn anh Hà Văn Đ.
Về con chung: Giao cháu Hà Thị Trà M, sinh ngày 23/11/2013 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuổi thành niên, chị D cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Trà M đủ tuổi thành niên. Chị D có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.
Về tài sản, công nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung, tổng số tiền án phí chị phải nộp là 600.000đ nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu ký hiệu: BLTU/23 số 0006021 ngày 21/10/2024. Chị D còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 9 Luật thi hành án dân sư, thời hiệu thi hành án được thi hành án được thực hiện hiện theo quy định tại điều 30 – Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - Các đương sự; - UBND xã Th; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện B; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Lƣơng Thanh Hải Lò Văn Trực | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Ký Vũ Văn Nga Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Văn Nga |