vanban.org

Bản án 12/2025/HNGĐ-ST-LY — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Hoàng Quốc 2- Về con chung: Giao cháu Hoàng Tú U, sinh ngày 20-02-2024 cho chị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Văn H, Hoàng Quốc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2025/HNGĐ-ST-LY
Ngày 30 - 7 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Khiếu;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Diệp Linh, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lào Cai tham gia phiên tòa: không.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 129/2025/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Thôn Ng, xã LY, tỉnh LC (Thôn NgT, xã LĐ, huyện LY, tỉnh YB cũ); Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Quốc T, sinh năm 2003.

Địa chỉ: Thôn Ng, xã LY, tỉnh LC (Thôn NgT, xã LĐ, huyện LY, tỉnh YB cũ); Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 6 năm 2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phùng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Liễu Đô, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái nay là xã Lục Yên, tỉnh Lào Cai ngày 22-9-2023. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 01-2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T không quan tâm đến gia đình, bỏ bê vợ con không chăm lo làm ăn, một mình chị H phải tự nuôi con nhỏ. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Quốc T.

Về con chung: Chị H và anh T có một con chung là: Hoàng Tú U, sinh ngày 20-02-2024. Ly hôn chị H có yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 27-6-2025, anh Hoàng Quốc T trình bày về quan hệ hôn

nhân, sống chung đúng như chị Phùng Thị H trình bày, anh T cho rằng vợ chồng sống với nhau đôi khi cũng có mâu thuẫn nguyên nhân do không có tiếng nói chung. Anh T cho rằng mâu thuẫn là rất nhỏ chưa đến mức phải ly hôn, nên chị H đề nghị ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. Về con chung: Nếu phải ly hôn anh T có nguyện vọng để con cho chị H nuôi , anh không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin xác nhận ngày 19-6-2025 của chị Phùng Thị H, trưởng Thôn

Ngòi Tàu, xã Liễu Đô và UBND xã LĐ (nay là xã LY) xác nhận về tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn và con chung giữa chị H và anh T đúng như chị H trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án thụ lý và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo đơn khởi kiện của chị Phùng Thị H, do bị đơn anh Hoàng Quốc T có hộ khẩu tH trú tại Thôn Ngòi Tàu, xã LY, tỉnh LC (Thôn NgT, xã LĐ, huyện LY, tỉnh YB cũ). Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai có thẩm quyền giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị H, anh Hoàng Quốc T kết hôn ngày 22-9-2023 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐ, huyện LY, tỉnh YB nay là xã LY, tỉnh LC. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định tại Điều 8, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này, qua lời khai của chị H năm 2025 chị H, anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh T có lời khai vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị H, anh T có xảy ra mâu thuẫn là đúng thực tế, phù hợp với lời khai của anh T và xác nhận ngày 19 tháng 6 năm 2025 của trưởng thôn Ngòi Tàu, xã Liễu Đô và UBND xã LĐ, huyện LY, tỉnh YB nay là thôn Ngòi Tàu, xã Lục Yên, tỉnh Lào Cai.

Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị H, anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Hoàng Quốc T.

Về con chung: Chị H, anh T có 01 con chung là Hoàng Tú U, sinh ngày

20-02-2024, hiện con đang ở với mẹ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu của chị H là được trực tiếp nuôi con là

hoàn toàn chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Anh T cũng có yêu cầu để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cũng như không ảnh hưởng đến tâm lý của con chung, căn cứ vào quy định của các Điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con Hoàng Tú Uyên cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Phùng Thị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị H được ly hôn với anh Hoàng Quốc

T.

2- Về con chung: Giao cháu Hoàng Tú U, sinh ngày 20-02-2024 cho chị

Phùng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi; anh Hoàng Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi cần, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung.

3- Về án phí:

- Chị Phùng Thị H phải chịu 300.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: AA/2024/0002613 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lào Cai. Chị H đã nộp đủ án phí.

4- Về quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị H và anh Hoàng Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.

5- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lào Cai;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND khu vực 2 – Lào Cai;

- Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai;

- UBND xã LY;

- Các đương sự;

- Lưu HS,T.A,THS.

Nguyễn Đỗ Quỳnh CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đỗ Quỳnh

Cỡ chữ