vanban.org

Bản án 12/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 12/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đàm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đàm Văn K 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn K pham tội Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG HÒA
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HSST
Ngày 12/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nông Thanh Điệp Các Hội thẩm nhân dân: ông Bế Văn Hạnh và bà Nông Thị Nhật Hằng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: bà Lục Thu Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Biên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa xét xử công khai sơ thẩm đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2024/HSST ngày 07/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/HSST-QĐTA ngày 28/02/2024 đối với các bị cáo:

Đàm Văn K - sinh ngày 10/5/1984. Giới tính: Nam

Số CMND 085022535, cấp ngày 15/10/2009, nơi cấp: Công an tỉnh C.

Nơi đăng ký thường trú: xóm B - C, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Bố: Đàm Văn S (sinh năm 1953); Mẹ: La Thị T (sinh năm 1953); Vợ: Tô Minh H (sinh năm 1981); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2016; Bị cáo là con út trong gia đình có 05 chị em.

Tiền sự: Không

Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 27/10/2020 bị Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 56/2020/HSST).

Nhân thân: Năm 2012 bị Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 03/2012/HSST ngày 19/01/2012). Năm 2017 bị Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 30/2017/HSST ngày 12/7/2017). Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 25 phút ngày 28/9/2023, Tổ công tác Công an huyện Q thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại xóm Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Đàm Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu nâu đen, biển kiểm soát 59B1 – 080.28 di chuyển theo hướng xã Q đi thị trấn Q có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện tại lòng bàn tay trái của K đang cầm một gói nilon màu trắng, bên trong là gói giấy bạc màu vàng chứa các cục chất bột màu trắng. K khai nhận các cục chất bột màu trắng là ma tuý, loại Heroin. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe LEAD, màu nâu đen, biển kiểm soát 59B1 – 080.28; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu trắng xanh, số IMEI 860646040474354, gắn Sim số 0865.254.300; 01 (một) bơm kim tiêm và 01 (một) lọ Novocain chưa sử dụng.

Hồi 16 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vật chứng tạm giữ của Đàm Văn K, kết quả: Các cục chất bột màu trắng có trong gói giấy bạc màu vàng có khối lượng 0,174g (không phẩy một bảy bốn gam). Sau khi cân đã tiến hành niêm phong và gửi giám định.

Kết luận giám định số 511/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin.

Quá trình điều tra Đàm Văn K khai nhận: Bản thân nghiện ma tuý từ năm 2011, loại ma tuý sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là chích. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/9/2023, K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59B1 – 080.28 đi từ nhà tại xóm B - C, xã Đ, huyện T đến xóm P, xã T, huyện T để tìm mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi K thấy một người đàn ông không quen biết đang ngồi bên đường, K đến hỏi “Lấy được hàng không?” (ý là có lấy được ma tuý không?), người đó trả lời “Có”, K đưa 500.000 đồng, người đàn ông nhận tiền và đi khoảng 10 phút quay lại đưa cho K 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 01 (một) gói ma tuý được gói bằng giấy bạc màu vàng. Mua được ma tuý, K quay về xã Đ mua 01 (một) bơm kim tiêm và 01 (một) lọ Novocain rồi tiếp tục điều khiển xe đi về hướng xã Q nhằm mục đích tìm chỗ vắng để sử dụng ma tuý. Khi đến xóm Đ, xã Q thì bị Tổ công tác Công an huyện Q dừng xe kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang K đang cầm trong lòng bàn tay trái 01 (một) gói ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,174 gam và tạm giữ phương tiện, đồ vật, tài sản có liên quan.

Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho Đàm Văn K, cho nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội các bị cáo Đàm Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo như Cáo trạng số 10/CT-VKSQH ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Đàm Văn K từ 05 năm đến 06 năm tù.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu hoàn lại sau giám định và vật chứng liên quan đến ma túy. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã thu giữ.

- Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Ngày 28/9/2023, tại đoạn đường thuộc xóm Đ, xã Q, Q, tỉnh Cao Bằng, bị cáo Đàm Văn K bị Tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang khi đang tàng trữ 01 (một) gói ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,174g (không phẩy một bảy bốn gam). Số ma tuý này, K mua với người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng vào sáng cùng ngày tại xóm P, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích của Bản án số 56/2020/HSSTngày 27/10/2020 Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà.

Như vậy, hành vi của bị cáo Đàm Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số 10/CT-VKSQH ngày 06/02/2024 của VKSND huyện Quảng Hòa truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Đàm Văn K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy và là mặt hàng nhà nước cấm mua bán, sử dụng nhưng bị cáo đã bất chấp để mua ma túy về sử dụng, điều đó góp phần làm gia tăng các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trong khu vực, bị quần chúng nhân dân lên án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước về chất ma túy, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét thấy bị cáo Đàm Văn K đã bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 56/2020/HSST ngày 27/10/2020) với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” do chưa được xóa án tích của Bản án số 30/2017/HSST ngày 12/7/2017. Do vậy lần phạm tội này hành vi của Đàm Văn K thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền, vì bị cáo không có thu nhập.

Vậy khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên truy tố và luận tội bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị mức hình phạt và xử lý vật chứng, án phí là có căn cứ pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo đã nhận tội và không có ý kiến tranh luận.

Phần nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội sửa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số 511/KL-KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ Đàm Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 28/9/2023”. Bên trong có 0,1364g (không phẩy một ba sáu bốn gam) mẫu còn lại sau giám định. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia; 01 (một) bơm kim tiêm và 01 (một) lọ Novocain chưa sử dụng; 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Đàm Văn K”. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia. Đây là chất ma túy hoàn lại sau giám định và là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng xanh, số IMEI 1: 860646040474354, gắn Sim số 0865.254.300. Bị cáo dùng để liên lạc hằng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe LEAD, màu sơn nâu đen, gắn biển kiểm soát 59B1 - 080.28; có số máy: JF24E0618179; số khung: RLHJF2401BY088456 (không có giấy đăng ký xe). Chiếc xe này được chị Tô Minh H (vợ của K) mua vào khoảng tháng 5/2023 tại thị xã B, tỉnh Bình Dương với giá 5.000.000 đồng (không có hợp đồng mua bán). Qua điều tra xác minh nguồn gốc phương tiện, kết quả: biển kiểm soát 59B1 – 080.28 được đăng ký bởi Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1982, trú tại: B Đ, khu phố C, phường B, thành phố T cho xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe LEAD, số khung: 401BY088456, số máy: F24E0618179 và hiện tại chị H2 vẫn đang sử dụng chiếc xe trên. Tiến hành trưng cầu giám định chiếc xe biển kiểm soát 59B1 - 080.28; có số máy: JF24E0618179; số khung: RLHJF2401BY088456 thì không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ của xe mô tô gửi giám định.

Xét thấy, chiếc xe biển kiểm soát 59B1 - 080.28, có số máy: JF24E0618179, số khung: RLHJF2401BY088456 không rõ nguồn gốc, không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ nên không đủ điều kiện lưu hành. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức tịch thu (Quyết định số 27 ngày 15/01/2024). Đến nay bị cáo và vợ bị cáo (Tô Minh H) không có khiếu nại, do đó việc tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước là đúng pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Đàm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Đàm Văn K 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số 511/KL-KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ Đàm Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 28/9/2023”. Bên trong có 0,1364g (không phẩy một ba sáu bốn gam) mẫu còn lại sau giám định. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia; 01 (một) bơm kim tiêm và 01 (một) lọ Novocain chưa sử dụng; 01 (một) phong bì thư niêm phong mặt trước ghi “Giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Đàm Văn K”. Mặt sau phong bì có chữ ký của các thành phần tham gia.

- Trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng xanh, số IMEI2: 860646040474354, số IMEI2: 860646040474347, gắn Sim số 0865.254.300, máy cũ đã qua sử dụng.

Số vật chứng hiện đang được tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa sẽ được đưa ra thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đàm Văn K phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ