vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NG THỊ MINH Y - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày: 12 - 01 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Yến Loan;

Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 377/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Minh Y (tên gọi khác Trang), sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số 597 Lô T, đường Đoàn Văn Bơ, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang Khắc Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; bị cáo có chồng tên Nguyễn Minh Th (đã chết), bị cáo chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 08/9/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại bản án số 157/HSST/2011. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/6/2016 (được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 9 năm 2023 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Ngọc S, sinh năm 1980; nơi thường trú: 160/11 Cô Giang, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1986; nơi thường trú: Số 92/5 khu phố Phú Hội, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người làm chứng:

Nguyễn Thị Ngọc M.

Huỳnh Thanh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Minh Y là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/9/2023, Nguyễn Thị Minh Y đến khu vực bến xe Miền Đông thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông tên T (đặc điểm khoảng 38 tuổi, cao khoảng 1,65 mét, nói giọng Miền Nam) mua 13 gói nylon hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng là ma túy với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua xong, Y cất giấu ma túy trong người rồi đi về phòng trọ địa chỉ 92/5, khu phố Phú Hội, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 50 phút ngày 10/9/2023, lực lượng Công an phường V tuần tra đến phía trước địa chỉ số 92/5 khu phố Phú Hội, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Y từ trong phòng trọ đi ra ngoài có biểu hiện nghi vấn là người sử dụng ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, thấy Y đang cầm trên tay phải 13 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, lúc này Y khai nhận là ma túy mang theo để sử dụng và giao nộp cho lực lượng Công an, sau đó Công an phường V mời về trụ sở làm việc.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị Minh Y tại phòng số 3, địa chỉ 92/5, khu phố Phú Hội, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa trong suốt có nắp chai màu xanh, bên trên nắp chai có gắn 01 ống thủy tinh dạng nỏ và có ống hút nhựa màu trắng.

Tại Bản kết luận giám định số 533/KL-KTHS (MT) ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 1,4660 gam (M1); 1,5633 gam (M2).

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-TA ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh Y từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 533 ngày 10/9/2023 mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: M1=1,4294 gam; M2=1,5361 gam; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy là vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên T đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị Minh Y vào ngày 09/9/2023, tại khu vực bến xe Miền Đông thuộc quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh khu vực trên nhưng không có thông tin đầy đủ đối tượng này nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, truy tố người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc S, Huỳnh Thanh H, có lời khai phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Minh Y khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 10/9/2023, tại địa chỉ số 92/5, khu phố Phú Hội, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị Minh Y có hành vi tàng trữ 13 (mười ba) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng có tổng trọng lượng: 3,0293 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Thị Minh Y là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật Hình sự nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã cất giấu ma túy để sử dụng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên T hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với ông Phạm Ngọc S ở cùng bị cáo Yến, ông Huỳnh Thanh H là chủ trọ, cả hai đều không biết bị cáo Y cất giấu ma túy, nên không xem xét xử lý.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 533 ngày 10/9/2023 mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: M1=1,4294 gam; M2=1,5361 gam; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy đây là vật chứng trong vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh Y 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 9 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong, ghi số vụ 533/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương và 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Minh Y phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ