vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 22/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Đức O 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 30/10/2023 đến ngày 25/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Oai - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN PHONG
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 22/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BĂC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hiền.

Bà Nguyễn Thị Tám.

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Phong.

-Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Phong, tinh Bắc Ninh tham

̉ gia phiên tòa: Ông Dương Minh Quang- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 25/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 07/02/2024 đối với bị cáo:

Trương Đức O, sinh năm 1987;

Nơi ĐKHKTT: Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đức O, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Chu Thị H, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2023 đến ngày 25/12/2023 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 27/10/2023, Trương Đức O đi xe ôm đến khu vực phường Tam Sơn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy nhằm mục đích sử dụng. Tại đây O mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 02 viên nén hình vuông màu vàng nhạt, trên hai mặt có chữ F, là ma túy “kẹo” với giá 500.000 đồng. Sau đó O đi bộ về nhà và trên đường về O đã uống 01 viên ma túy.

Khoảng 17 giờ ngày 29/10/2023, O cho túi nilon màu trắng chứa viên 01 viên ma túy “kẹo” mua hôm trước vào vỏ hộp thuốc có chữ Medskin Clovir rồi dùng băng gạc dán hai đầu hộp thuốc và cất trong túi quần bên phải đang mặc, mục đích để đi tìm nơi sử dụng. O đi đến sân bóng thôn Phù Xá, xã Văn Môn thấy anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là chú họ của O đang đá bóng, O nghĩ anh Đ đá bóng xong sẽ uống bia rượu nên O có ý định đưa cho anh Đ viên ma túy để anh Đ sử dụng giải bia rượu. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, O thấy cháu Nguyễn Văn P là con của anh Đ cũng đi đến quán nước nên O đưa cho cháu P hộp vỏ thuốc bên trong có chứa viên ma túy và nói với cháu P: “anh mua cho bố Đ lọ thuốc nhỏ mắt sau về đưa cho bố Đ”, đồng thời O dặn cháu P là chỉ có anh Đ được mở hộp thuốc. Khoảng 15 phút sau, cháu P cầm vỏ hộp thuốc mà O đưa cho rồi đi cùng cháu Đ đến phòng tập gym ở thôn Phù Xá, xã Văn Môn thì gặp bà Nguyễn Thị X, là bà nội của cháu P. Cháu P nói với bà X về việc O đưa cho vỏ hộp thuốc. Lúc này, cháu P bảo cháu Đường bóc vỏ hộp thuốc ra thì thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 viên nén hình vuông màu vàng nhạt hai mặt có chữ F. Do nghi ngờ là ma túy nên cháu P bảo cháu Đường cho túi ma túy vào lại trong vỏ hộp rồi mang đến chỗ anh Đ. Sau đó anh Đ bảo P đến Công an xã Văn Môn trình báo, giao nộp vỏ hộp thuốc bên trong chứa viên ma túy.

Công an xã Văn Môn tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với cháu P, kết quả âm tính với chất ma túy. Cùng ngày 29/10/2023, Công an xã Văn Môn chuyển nguồn tin về tội phạm cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong ra Quyết định trưng cầu giám định số 315/QĐ-CQĐT, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất ma túy đối với viên nén hình vuông màu vàng nhạt.

Tại Kết luận giám định số: 2186A /KL-KTHS ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- 01 viên nén màu vàng hình ô vuông, trên hai mặt có khắc chìm chữ F bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 0,4044 gam; Là ma túy; Loại ma túy: MDMA. MDMA là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Nhận thức được hành vi sai phạm của bản thân, ngày 30/10/2023, Trương Đức O đầu thú tại Công an huyện Yên Phong, kết quả xét nghiệm nước tiểu thể hiện O dương tính với chất ma túy.

Ngày 30/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong khám xét khẩn cấp nơi ở của O tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến tội phạm.

Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong có Quyết định trưng cầu giám định số 362/QĐ-ĐCSMT-KT, trưng cầu Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc giám định pháp y tâm thần đối với Trương Đức O.

Tại Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 232/KLGĐ ngày 17/01/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:

1. Trương Đức O không bị bệnh tâm thần.

2. Tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 29/10/2023, Trương Đức O không bị bệnh tâm thần. Trương Đức O đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

3. Hiện tại (thời điểm giám định) Trương Đức O không bị bệnh tâm thần. Trương Đức O đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-YP ngày 25/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Trương Đức O về tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo O khai: 01 viên nén hình vuông màu vàng nhạt có khối lượng 0,4044 gam do cơ quan Công an thu giữ là ma túy của O mua của một người đàn ông không quen biết với mục đích để sử dụng cho bản thân. O đã đưa viên ma túy trên cho cháu Nguyễn Văn P để nhờ cháu P đưa cho bố cháu P là anh Nguyễn Văn Đ. Sau đó anh Đ đã trình báo Công an. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

-Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Trương Đức O từ 13 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam kể từ ngày 30/10/2023 đến ngày 25/12/2023.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Trương Đức O, sinh năm 1987 ở thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Phong, tỉnh Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có 02 que thử nước tiểu.

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo O.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với Đ diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo O thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 18 giờ ngày 29/12/2023 tại thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Trương Đức O có hành vi tàng trữ trái phép 01 viên nén hình vuông màu vàng nhạt có khối lượng 0,4044 gam, là loại ma túy MDMA để sử dụng cho bản thân. O đưa vỏ hộp thuốc có chứa 01 viên nén hình vuông là ma túy cho cháu Nguyễn Văn P rồi nói với cháu P đưa lại cho anh Nguyễn Văn Đ. Do nghi ngờ viên nén mà O đưa là ma túy nên cháu P đã trình báo Công an xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi phạm tội bị cáo đến Công an đầu thú. Như vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cũng cần xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Trương Đức O, sinh năm 1987 ở Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Phong, tỉnh Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có 02 que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo O.

[3] Những vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy O ngày 27/10/2023 tại khu vực phường Tam Sơn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, do O không biết tên tuổi địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được con người cụ thể, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Văn Đ, cháu Nguyễn Văn P không biết trong vỏ hộp thuốc mà O đưa cho có chứa chất ma túy, O cũng không nói cho anh Đ, cháu P biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành test nhanh ma túy đối với bị cáo, kết quả xác định bị cáo dương tính với ma túy. Do bị cáo không nhớ địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra chưa xử lý. Khi nào làm rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy sẽ xử lý sau.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Đức O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trương Đức O 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 30/10/2023 đến ngày 25/12/2023.

3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Trương Đức O, sinh năm 1987 ở Thôn Phù Xá, xã Văn Môn, huyện Phong, tỉnh Bắc Ninh; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có 02 que thử nước tiểu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo O.

4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ