- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Tuyên phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qu…
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 12/2024/HS-ST Ngày 01/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Hạ Tuấn, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa;
Bà Nguyễn Thị Vân, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa
- Thư ký phiên toà : Bà Tưởng Thị Lan – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 09/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo : DƯƠNG VĂN T - sinh năm 1972; giới tính: Nam; sinh trú quán : Xóm 1, thôn P Thượng, xã P, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Dương Đình Chi, con bà : Nguyễn Thị Tuất (Đều đã chết); vợ : Trần Thị Hạ, sinh năm 1977, con có 02 con (Con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự : Không, nhân thân : Ngày 28/01/2003 , bị Toà án nhân dân thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xoá án tích; ngày 27/5/2011 , bị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 28/10/2012, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, đã được xoá án tích; ngày 20/12/2013 , bị Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 30/01/2016, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, đã được xoá án tích; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Trần Hải Ngọc, sinh năm 1982; HKTT: thôn P Hạ, xã P, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 08 giờ ngày 15/12/2023, Dương Văn T đi từ nhà lên Quốc lộ 21B đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tìm mua được 01 gói ma túy của 01 người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. T cất gói ma túy vừa mua vào túi quần bên trái đi bộ về. Sau đó, T đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Đội 1, thôn P Thượng, xã P, huyện Ứng Hòa thì xuống xe. Khi T đang đi bộ về nhà thì bị Tổ công tác Công an xã P kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu vàng, đen kích thước (2,5x1,5)cm bên trong có chất bột màu trắng.
Ngày 15/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 262 đối với vật chứng thu giữ của Dương Văn T, tại Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội.Tại bản kết luận giám định số 8237/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng đen là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,180gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 10/CT - VKS ngày 01/02/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Dương Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh, nội dung vụ án cũng như điều luật, khoản áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau :
- Về tội danh và mức hình phạt : Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự : T bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ, tạm giam 15/12/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
- Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an Thành phố Hà Nội, Đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, chữ ký và tên Dương Văn T, sinh năm 1972, hộ khẩu thường trú: xóm 1, thôn P Thượng, xã P, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội, ngày niêm phong ngày 15/12/2023, giám định viên Nguyễn Hồng Quân; cán bộ là Nguyễn Việt Trung và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 22/02/2024 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).
- Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứng Hòa đều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hình vi của bị cáo : Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Ngày 15/12/2023, Dương Văn T đã mua và tàng trữ trái phép 0,180 gam chất ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Khi T đi đến thôn P Thượng, xã P, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội thì bị Công an xã P phát hiện bắt quả tang.
Về tôi danh : Bằng hành cất giữ trái phép 0,180 gam chất ma túy Heroine mục đích để sử dụng của Dương Văn T. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì, bị cáo đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tính chất : Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người nghiện chất ma túy, nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội phạm ma túy và tội phạm khác, bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện việc coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội, đồng thời cũng để cho bị có có thời gian cai nghiện trong trại giam, sau khi mãn hạn tù trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và tình tiết tăng nặng là tái hạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung : Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[6] Nguồn gốc gói ma tuý : Theo Dương Văn T khai nhận ngày 15/12/2023, T mua của một người đàn ông không quen biết có đặc điểm khoảng 50 tuổi ở khu vực xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, ngoài ra các đặc điểm khác, tên, địa chỉ cụ thể T không biết; Việc mua bán ma túy giữa T và người đàn ông trên diễn ra ở ngoài đường, không có ai khác biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở xác minh làm rõ, xử lý trong vụ án.
Đối hai người đàn ông cho T đi nhờ xe: T không nhớ đặc điểm, không biết lai lịch của hai người này là ai, ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứng Hòa không đủ căn cứ xác minh làm rõ.
Xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại gồm: 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an Thành phố Hà Nội, Đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, chữ ký và tên Dương Văn T, sinh năm 1972, hộ khẩu thường trú: xóm 1, thôn P Thượng, xã P, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội; giám định viên; cán bộ và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong.
Về án phí, quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1.T bố bị cáo : Dương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Dương Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 15/12/2023).
3. Về xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an Thành phố Hà Nội, Đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, chữ ký và tên Dương Văn T, sinh năm 1972, hộ khẩu thường trú: xóm 1, thôn P Thượng, xã P, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội, ngày niêm phong ngày 15/12/2023, giám định viên Nguyễn Hồng Quân; cán bộ là Nguyễn Việt Trung và dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 22/02/2024 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).
4. Về án phí : Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |