vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thanh T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN QUÂN SỰ
KHU VỰC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 12/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1// Hoàng Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm quân nhân: 2// Nguyễn Minh Hải;

2// Bùi Mạnh Phương.

Thư ký phiên tòa: 2/ Ngô Anh Dũng, Thư ký Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân tham gia phiên tòa: 2// Lê Thị Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Thanh T; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 7 năm 1994 tại Q; nơi cư trú: xã P, huyện P1, tỉnh P2; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: Lớp 10; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Trương Thanh L (đã chết) và bà Trương Thị L1; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh L2 và 01 con (sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: không có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị xử lý kỷ luật lần nào; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Đại diện của bị hại: Ông Nguyễn Văn H1 (bố đẻ của bị hại), sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm 1, xã E, huyện E1, tỉnh E2; vắng mặt.

Bị hại: Nguyễn Đức H; sinh năm: 1998; cấp bậc, chức vụ, đơn vị: Trung úy, Trung đội trưởng C, Trung đoàn C1, Sư đoàn C2, Quân chủng Phòng không - Không quân (đã chết ngày 19/01/2024).

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Thương mại và vận tải M; địa chỉ: xã R, huyện R1, tỉnh R2. Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Chí G; sinh năm 1989; chức vụ: Nhân viên; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/01/2024, Trương Thanh T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HINO màu trắng, BKS: 89H-021.xx của Công ty TNHH Thương mại và vận tải M đi từ xã R, huyện R1, tỉnh R2 đến Khu công nghiệp K, quận K1, Thành phố A để nhận hàng theo lệnh điều động xe của công ty. Sau khi nhận hàng xong, T điều khiển xe đi vào Quốc lộ Y theo hướng từ cầu K3 đi cầu K4, A để quay về R2 đón anh Nguyễn Văn H2 để cùng đi Thành phố O giao hàng. Khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi ở làn giữa, khi đến đoạn Km 161+600 thuộc địa phận phường K5, quận K1, Thành phố A là khu vực nút giao có lối rẽ phải vào đường dẫn lên đường cao tốc A - B, do thiếu tập trung quan sát, khi phát hiện xe ô tô của mình đi gần hết vị trí được rẽ thì T quan sát nhanh phía trước, giảm tốc độ, nhìn thoáng qua gương chiếu hậu bên phải xe ô tô không phát hiện thấy có phương tiện nào đang di chuyển nên T đã bật đèn xi nhan phải đồng thời đánh lái cho xe ô tô chuyển hướng để rẽ phải. Khi T vừa đánh lái thì phần phía dưới bậc lên xuống cabin bên phải xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với mặt ngoài phía sau ốp bầu lọc gió bên trái xe mô tô Honda Airblade, BKS: 18H1- 724.xx do quân nhân Nguyễn Đức H điều khiển đang đi bên phải cùng chiều ở làn đường dành cho xe mô tô, làm xe mô tô đổ về bên trái xuống đường, trượt về phía trước, H ngã xuống đường rồi bị bánh trước và bánh sau bên phải xe ô tô do T điều khiển chèn qua người. T vội phản xạ đạp phanh, hơi đánh lái điều khiển xe về bên trái đi được thêm vài mét thì dừng lại ở khu vực có vạch kẻ đường hình chữ V tại khu vực nút giao. Hậu quả: quân nhân Nguyễn Đức H tử vong tại hiện trường; hai phương tiện bị hư hỏng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Thanh T khai nhận như nội dung vụ án đã nêu trên.

Lời khai của đại diện của bị hại - ông Nguyễn Văn H1: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo T đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại một lần với tổng số tiền là 306.930.000 đồng, gồm 300.000.000 đồng là tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, tổn thất tinh thần, chi phí mai táng và các chi phí khác theo quy định của pháp luật và 6.930.000 đồng là tiền sửa chữa xe mô tô BKS: 18H1-724.xx. Đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời khai của bị đơn dân sự - Công ty TNHH Thương mại và vận tải M: Sau khi sự việc xảy ra, Công ty và bị cáo T đã thỏa thuận và thống nhất để bị cáo T trực tiếp bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 306.930.000 đồng. Công ty đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục thiệt hại xe ô tô tải BKS: 89H-021.xx số tiền là 810.000 đồng và không yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền trên.

Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K1, Thành phố A lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 19/01/2024 và Biên bản rà soát, ghi nhận biển báo hiệu giao thông đường bộ do Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/3/2024 ghi nhận: Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông tại Km161+600 đường Quốc lộ Y thuộc địa phận phường K5, quận K1, Thành phố A là đoạn đường đôi, mặt đường trải bê tông nhựa thẳng phẳng, giữa đường có dải phân cách bê tông chia đường thành 02 chiều xe chạy riêng biệt; mỗi chiều, đường rộng 11m và được chia làm 03 làn đường xe chạy cùng chiều, làn ngoài cùng bên trái dành cho xe ô tô, làn ở giữa là làn hỗn hợp dành cho xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, làn trong cùng bên phải dành riêng cho xe mô tô, xe gắn máy. Vị trí xảy ra tai nạn trên chiều đường dành cho phương tiện di chuyển theo hướng từ cầu K3 đi cầu K4. Xe ô tô tải HINO, BKS 89H-021.xx đỗ ở phần đường kẻ vạch kênh hóa dòng xe dạng chữ V trên mặt đường Quốc lộ Y, đầu xe hướng cầu K4, đuôi xe hướng cầu K3. Cách tâm trục bánh sau cùng bên trái xe ô tô về phía cầu K3 2,2m là vị trí đầu 01 tử thi nam giới, đầu quay hướng giải phân cách giữa đường, chân quay hướng lối dẫn đi đường cao tốc A - B. Cách tâm trục bánh sau cùng bên trái xe ô tô về phía cầu K3 6,8m là vị trí tâm trục bánh trước xe mô tô Honda Airblade BKS 18H1-724.xx, đang nằm đổ nghiêng bên trái trên mặt đường Quốc lộ Y, đầu xe hướng cầu K4, đuôi xe hướng cầu K3.

Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông đối với xe mô tô Honda Airblade, BKS 18H1-724.xx ghi nhận: Góc phía sau mặt ngoài ốp bầu lọc gió gắn bên trái xe có dấu vết trượt xước bám dính chất màu trắng, bám dính chất dạng nilon sáng màu, vết có chiều từ sau về trước, mặt ngoài ốp này có dấu vết trượt xước, nứt vỡ, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá); tại các vị trí mặt trước đầu núm tay lái bên trái, đầu núm tay phanh bên trái, mặt ngoài bên trái tay nâng sau xe, ốp sàn để chân trước bên trái, yếm chắn gió bên trái có chiếu hậu cần bắt gương các vết trượt, xước; mặt ngoài góc trái ốp nhựa đầu bên trái bị nứt vỡ, cong gập theo chiều từ trước về sau, trên bề mặt có dấu vết xước, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá).

Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông đối với xe ô tô tải HINO, BKS 89H-021.xx ghi nhận: Mặt ngoài phía dưới bậc lên xuống cabin bên phải có dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, để lộ nền đen bên trong, vết có chiều hướng từ trước về sau; ốp phía trước của khung cản gầm xe bên phải (khung bảo vệ) có dấu vết nứt, vỡ, chiều từ trước về sau, mặt ngoài có dấu vết sạch bụi bẩn; má ngoài lốp bên phải phía trước vị trí gần mặt lăn có dấu vết mất cao su, sạch bụi bẩn, mặt trong của lốp này có bám dính nhiều chất dung dịch dạng bọt giảm dần từ mặt lăn vào phía trong.

Kết luận giám định số 35/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Dấu vết trượt xước, mất chất màu trắng ở phía dưới bậc lên xuống cabin bên phải xe ô tô BKS: 89H-021.xx có chiều hướng từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu trắng ở mặt ngoài phía sau ốp bầu lọc gió bên trái xe mô tô BKS: 18H1-724.xx; dấu vết va chạm ở xe mô tô BKS: 18H1-724.xx tại vị trí này có chiều từ sau về trước. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện nêu trên là phía dưới bậc lên xuống cabin bên phải xe ô tô BKS: 89H-021.xx và mặt ngoài phía sau ốp bầu lọc gió bên trái xe mô tô BKS: 18H1-724.xx.

Kết luận giám định tử thi số 166/102/KLGĐTT-TTPY ngày 19/02/2024 của Trung tâm Pháp y A đối với Nguyễn Đức H kết luận: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Đức H là do Đa chấn thương: Đa chấn thương phần mềm, chấn thương ngực, chấn thương bụng, chấn thương khung chậu nặng.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV1 ngày 02 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát quân sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân truy tố bị cáo Trương Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, điều kiện, nguyên nhân phạm tội và nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Trương Thanh T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/8/2024). Giao bị cáo Trương Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P1, tỉnh P2 giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Về dân sự: Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 1 các Điều 584, 585, 586, 589, điểm b, d khoản 1, khoản 2 Điều 591; khoản 1, 2 Điều 601 Bộ luật Dân sự, bị đơn Công ty TNHH Thương Mại và Vận tải M có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H và chi phí sửa chữa xe mô tô BKS: 18H1-724.xx; bị cáo Trương Thanh T có trách nhiệm bồi hoàn cho Công ty TNHH Thương mại và vận tải M số tiền bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H, chi phí sửa chữa xe mô tô BKS: 18H1-724.xx và chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 89H-021.xx. Ghi nhận bị cáo Trương Thanh T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H tổng số tiền là 306.930.000 đồng. Ghi nhận Công ty TNHH Thương mại và vận tải M không yêu cầu bị cáo bồi hoàn chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 89H-021.xx.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị ghi nhận quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng đã trả lại vật chứng và các đồ vật có liên quan cho các chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Trương Thanh T nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và không có tranh luận gì.

Bị đơn dân sự nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong HĐXX xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K1, Thành phố A, Cơ quan điều tra hình sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân, Điều tra viên; Viện kiểm sát quân sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, đại diện của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trương Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa.

Căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các chứng cứ nêu trên, HĐXX thấy rằng có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 19/01/2024, Trương Thanh T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HINO màu trắng, BKS: 89H-021.xx của Công ty TNHH Thương Mại và Vận tải M lưu thông trên Quốc lộ Y theo hướng từ cầu K3 đi cầu K4, A. Khi đến đoạn Km 161+600 thuộc địa phận phường K5, quận K1, Thành phố A là khu vực nút giao có lối rẽ phải vào đường dẫn lên đường cao tốc A - B, Trương Thanh T đã giảm tốc độ, bật đèn xi nhan phải để chuyển hướng rẽ phải. Tuy nhiên, do thiếu quan sát, thực hiện chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn nên xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe mô tô Honda Airblade, BKS: 18H1- 724.xx do quân nhân Nguyễn Đức H điều khiển đang đi bên phải cùng chiều ở làn đường dành cho xe mô tô, làm xe mô tô bị đổ, quân nhân H ngã xuống đường rồi bị bánh trước và bánh sau bên phải xe ô tô do T điều khiển chèn qua người. Hậu quả: quân nhân Nguyễn Đức H tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị hư hỏng. Hành vi của Trương Thanh T đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Vì vậy, hành vi của Trương Thanh T đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ.

Xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, HĐXX thấy rằng tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Quá trình giải quyết vụ án Trương Thanh T đã bồi thường xong cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H tổng số tiền là 306.930.000 đồng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, đại diện gia đình bị hại Nguyễn Đức H đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; quá trình giải quyết vụ án, đại diện của bị hại Nguyễn Đức H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Theo quy định của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/3/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 BLHS, cho bị cáo được hưởng án treo, buộc bị cáo phải chịu thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo phòng ngừa chung cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

HĐXX nhận thấy: Bị cáo chỉ có nghề nghiệp chính là lái xe, vợ bị cáo không có công việc ổn định, con còn nhỏ, vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại:

Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 1 các Điều 584, 585, 586, 589, 591 và Điều 601 Bộ luật Dân sự, buộc bị đơn dân sự Công ty TNHH Thương Mại và Vận tải M bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H và chi phí sửa chữa xe mô tô BKS: 18H1-724.xx; buộc bị cáo Trương Thanh T bồi hoàn cho Công ty TNHH Thương mại và vận tải M số tiền bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H, chi phí sửa chữa xe mô tô BKS: 18H1-724.xx và chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 89H-021.xx.

Quá trình giải quyết vụ án, Công ty TNHH Thương Mại và Vận tải M và bị cáo Trương Thanh T đã thỏa thuận và thống nhất để bị cáo T trực tiếp bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H số tiền là 306.930.000 đồng bao gồm 300.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, tổn thất tinh thần, chi phí mai táng, các chi phí khác theo quy định của pháp luật và 6.930.000 đồng tiền sửa chữa xe mô tô BKS: 18H1-724.xx. Đại diện của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên xét thấy cần ghi nhận.

Đối với thiệt hại của xe ô tô BKS: 89H-021.xx: Chủ sở hữu xe là Công ty TNHH Thương mại và vận tải M đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hư hỏng của xe ô tô và không yêu cầu bị cáo bồi hoàn gì thêm nên xét thấy cần ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra hình sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân đã thu giữ: 01 xe ô tô tải màu trắng, nhãn hiệu HINO, BKS: 89H-021.xx kèm theo 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đều mang tên Công ty TNHH Thương mại và vận tải M; 01 giấy phép lái xe hạng Al, C và 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Trương Thanh T; 01 xe mô tô Honda Airblade, BKS 18H1-724.xx kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy phép lái xe hạng A1; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đều mang tên Nguyễn Đức H. Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 1 Quân chủng Phòng không - Không quân và Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội đã trả lại các giấy tờ, tài sản trên cho chủ sở hữu và đại diện của họ theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét, giải quyết lại nữa.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trương Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Trương Thanh T 16 (Mười sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/8/2024). Giao bị cáo Trương Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P1, tỉnh P2 giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 Bộ luật Hình sự.

2. Về bồi thường thiệt hại

Ghi nhận Công ty TNHH Thương mại và vận tải M và bị cáo Trương Thanh T đã thỏa thuận và thống nhất để bị cáo Trương Thanh T trực tiếp bồi thường xong cho gia đình bị hại Nguyễn Đức H tổng số tiền là 306.930.000 (Ba trăm linh sáu triệu chín trăm ba mươi nghìn) đồng.

Ghi nhận Công ty TNHH Thương mại và vận tải M không yêu cầu bị cáo bồi hoàn chi phí sửa chữa xe ô tô BKS: 89H-021.17.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trương Thanh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/8/2024) đối với bị cáo, bị đơn dân sự và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án đối với đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm lên Tòa án quân sự Thủ đô Hà Nội./.

Cỡ chữ