vanban.org

Bản án 12/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn H và đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phạm Văn Đ. II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án PT- Nguyễn Tuấn H- VPGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-PT
Ngày 15 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Đăng Phong;

Thẩm phán:

Ông Mai Văn Quang;

Ông Đinh Quốc Trí.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Phong - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 15/01/2024, tại Trụ sở Tòa án Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 967/2023/TLPT-HS ngày 04/12/2023 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn H và đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Phạm Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 209/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1969; Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã X, huyện S, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Học phổ thông: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn K và con bà Nguyễn Thị A; Vợ: Nguyễn Thị N; Bị cáo có 02 con, sinh năm 1997 và sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn B, xã X, huyện S, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).

Vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại khác là ông Tạ Đức G, bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h ngày 23/01/2022, sau khi uống rượu tại nhà anh vợ là Nguyễn Văn C, sinh 1972, trú tại thôn V, xã X, huyện Sóc Sơn, Nguyễn Tuấn H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô BKS 30E - 264.80 đi đến đường 35, địa phận Thôn B, xã X, huyện S, Thành phố Hà Nội. Do thiếu chú ý quan sát nên đã va chạm với chị Tạ Thị N, sinh 1982, trú tại Thôn B, xã X, huyện S, Thành phố Hà Nội đang đứng bên cạnh xe mô tô BKS 29S7 - 8593 kéo theo xe cải tiến đang đỗ bên phải đường, ngược với chiều đi của H. Hậu quả làm chị N bị thương nặng. Sau khi va chạm, Nguyễn Tuấn H điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường và đi đến nhà anh Nguyễn Ngọc T, sinh 1985, trú tại thôn L, xã D, huyện S tiếp tục uống rượu. Sau khi uống rượu xong, H điều khiển xe ô tô đi về đến thôn Q, xã T, huyện Sóc Sơn thì bị người dân phát hiện, giữ lại đưa về trụ sở Công an làm việc. Kiểm tra nồng độ cồn của Nguyễn Tuấn H có kết quả 0,650 miligam/1 lít khí thở. Đối với chị N sau khi bị tai nạn đã được người dân đưa đi cấp cứu. Đến ngày 26/01/2022, do thương tích nặng chị N đã tử vong.

- Khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường tỉnh lộ 35, địa phận thôn B, xã X, huyện S, Thành phố Hà Nội. Đường dải nhựa nhẵn phẳng, rộng 10m50, ở giữa đường có vạch sơn đứt quãng. Từ vạch sơn đứt quãng đo vào mép đường nhựa bên phải theo QL2 hướng QL3 là 05m. Tại hiện trường để lại dấu vết trượt xước đo dài 0m90, dấu vết có chiều QL2 hướng QL3. Đo từ đầu dấu vết vào mép đường nhựa hướng QL2 đi QL3 làm chuẩn là 0m60, đo từ cuối dấu vết vào mép đường làm chuẩn là 0m20. Hiện trường để lại vùng nhựa vỡ nhỏ, lẻ, vụn, vương vãi, KT 1m50 x 1m80. Tâm vùng vỡ đo vào mép đường làm chuẩn là 0m55.

- Khám nghiệm phương tiện xác định:

+ Đối với xe mô tô BKS 88F7 - 8593: Tại giá để chân, chân phanh bên phải có dấu vết cong gấp móp méo kim loại bong tróc cao su. Trên bề mặt chân phanh còn bám dính chất mùn dạng sơn màu ghi vàng. Dấu vết có chiều từ trước về sau xe.

+ Xe cải tiến: Tại thanh kim loại thành xe bên phải được làm bằng kim loại ống sắt phi 21, có dấu vết làm sạch trượt miết kim loại. Trên bề mặt và trong ống kim loại còn để lại mảng sơn màu ghi vàng. Điểm thấp nhất của đầu ống kim loại cách đất 75cm.

+ Đối với xe ô tô BKS 30E - 264.80: Tại mặt ngoài ba đờ sốc tai xe bên phải phía trước có dấu vết làm móp méo biến dạng trầy xước. Trượt miết kim loại, bong tróc sơn làm lộ rõ màu sơn và kim loại bên trong. Dấu vết có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái. Dấu vết có kích thước trên diện (110x66)cm. Điểm thấp nhất của dấu vết cách đất là 32cm; Tại mặt ngoài sườn xe bên phải dưới cánh cửa có dấu vết trầy xước làm bong tróc sơn làm lộ rõ màu sơn kim loại bên trong, dấu vết có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái. Dấu vết có kích thước (42x1)cm. Điểm thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 29cm. Điểm thấp nhất của dấu vết cách mặt đất 29cm. Điểm đầu của dấu vết đo đến tâm trục bánh trước bên phải là 35cm; Tại ốp nhựa lazăng bánh trước bên phải có dấu vết rạn nứt, gãy vỡ mất mảng nhựa kích thước (26x26)cm. Dấu vết có chiều từ ngoài hướng vào tâm trục; Tại mặt ngoài cánh cửa trước, cánh cửa sau bên phải có dấu vết trượt miết sơn, bám dính chất mùn dạng sơn màu trắng, dấu vết có chiều từ trước về sau. Dấu vết có kích thước (24x2)cm, điểm thấp nhất cách đất 59cm. Từ đầu dấu vết đo về phía sau xe là 19cm; Tại mặt ngoài nắp capo kính chắn gió phía trước có dấu vết móp méo kim loại gãy vỡ bong tróc sơn, vỡ rạn nứt. Dấu vết có kích thước (15x14)cm. Đo từ tâm dấu vết ra mép thành xe bên phải là 13cm.

Tại Kết luận giám định số 2264/08.4.2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: “Các mảnh màu ghi vàng thu tại vị trí chân phanh xe mô tô BKS 88F7 - 8593 có cùng loại với mảnh màu ghi vàng thu tại phần ba đờ sốc bên phải xe ô tô BKS 30E - 264.80; Các mảnh màu ghi vàng thu tại vị trí trong ống kim loại của thành thùng xe cải tiến có cùng loại với mảnh màu ghi vàng thu tại phần ba đờ sốc bên phải xe ô tô BKS 30E - 264.80.”

Bản cáo trạng số 189/CT/VKS - HS ngày 19/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 209/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: Nguyễn Tuấn H 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/12/2023 bị cáo Nguyễn Tuấn H kháng cáo xin hưởng án treo và đại diện hợp pháp của bị hại ông Phạm Văn Đ kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Sau khi tai nạn bị cáo nghĩ rằng chỉ va chạm nhẹ, không sao nên bị cáo đã bỏ đi, ngay sau khi biết bị hại bị thương bị cáo đã đến trình báo cơ quan pháp luật.

Lý do bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo là bị cáo không có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và gia đình bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo và gia đình bị hại cùng thôn với nhau và cũng đi lại quen biết thân tình với nhau từ trước đến nay. Hoàn cảnh gia đình bị hại rất khó khăn, bị cáo xin hưởng án treo để có cơ hội lao động giúp đỡ và hỗ trợ gia đình bị hại; thực tế sau khi bị hại chết bị cáo đã thường xuyên giúp đỡ và ủng hộ các con bị hại; từ những lý do trên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nghẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện bị hại là ông Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa, kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại theo trình tự phúc thẩm.

- Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại, giữ Bản án hình sự sơ thẩm số: 209/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Toà án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại không tham gia tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm về trình tự, thủ tục và thẩm quyền đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15h ngày 23/01/2022, tại đường 35, địa phận Thôn B, xã X, huyện S, TP. Hà Nội, Nguyễn Tuấn H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển ô tô BKS 30E - 264.80 tham gia giao thông có sử dụng rượu, do thiếu chú ý quan sát đã va chạm xe mô tô BKS 88F7 - 8593 phía sau kéo xe cải tiến và đâm vào chị Tạ Thị N, sinh 1982, trú tại Thôn B, xã X, huyện S, TP. Hà Nội đang đứng dừng đỗ xe ở lề đường ngược chiều. Hậu quả chị Nga bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu đến ngày 26/01/2022 thì tử vong. Sau khi tai nạn, bị cáo H không giữ nguyên hiện trường, điều khiển xe ô tô bỏ chạy.

Với hành vi trên, Bản án sơ thẩm đã xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt:

Khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, vai trò đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 36 tháng tù là có phần nghiêm khắc.

Tại phiên phúc thẩm bị cáo trình bày: Sau khi tai nạn bị cáo nghĩ rằng chỉ va chạm nhẹ, không sao nên bị cáo đã bỏ đi, ngay sau khi biết bị hại bị thương bị cáo đã đến trình báo cơ quan pháp luật.

Lý do bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo là bị cáo không có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và gia đình bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo và gia đình bị hại cùng thôn với nhau và cũng đi lại quen biết thân tình với nhau từ trước đến nay. Hoàn cảnh gia đình bị hại rất khó khăn, bị cáo xin hưởng án treo để có cơ hội lao động giúp đỡ và hỗ trợ gia đình bị hại; thực tế sau khi bị hại chết bị cáo đã thường xuyên giúp đỡ và ủng hộ các con bị hại; từ những lý do trên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện hợp pháp cũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là giảm một phần hình phạt cho bị cáo vẫn đảm bảo giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại được chấp nhận nên bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn H và đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phạm Văn Đ.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2022/HSST ngày 22/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Các điểm b, c khoản 2 Điều 260; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo:

Nguyễn Tuấn H 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Tuấn H và đại diện hợp pháp cho bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ