- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N tranh chấp ly hôn với ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị N về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Phạm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 02/02/2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo;
Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 413/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/11/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vương Thị N, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm 6, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An; có đơn xin vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1988; thường trú: Ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Nhà trọ Dương Tấn Lộc thuộc tổ 4, khu phố Kh, phường Y, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vương Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị N và ông Phạm Văn T có thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50, ngày 22/7/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, tôn trọng lẫn nhau nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong đời sống gia đình, không tin tưởng lẫn nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách để hàn gắn nhưng vẫn không thể hòa hợp được và hiện tại cả hai đã ly thân, cuộc sống của ai người đó lo, không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Vương Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 02/01/2020. Khi ly hôn, bà Vương Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Vương Thị N tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà Vương Thị N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Bà Vương Thị N và ông Phạm Văn T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Bà N xác định hiện nay vợ chồng không còn sống cùng nhau, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: Bà N yêu cầu được nuôi con chung, xét thấy hiện nay bà N đang nuôi con, điều kiện nuôi con được đảm bảo nên cần giao con cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng; bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thành phố T và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố T giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Vương Thị N có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Phạm Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 227 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị N và ông Phạm Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50, ngày 22/7/2019, là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung; hiện tại cả hai không còn chung sống với nhau nữa và cũng không đưa ra được biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà N xác định không còn tình cảm với ông T và yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, ông T không đến Tòa án cho thấy ông không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, đồng thời bà N kiên quyết xin ly hôn. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà N yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 02/01/2020. Khi ly hôn, bà Vương Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Hội đồng xét xử thấy, hiện tại cháu H đang sống cùng bà N nên cần giữ ổn định về chỗ ở để không ảnh hưởng tâm lý của trẻ. Ngoài ra, bà N có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho bà N nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị N về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Phạm Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị N được ly hôn với ông Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Gia H, sinh ngày 02/01/2020 cho bà Vương Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Vương Thị N và ông Phạm Văn T đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vương Thị N không yêu cầu ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Vương Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001601 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố T; - CCTHADS thành phố T; - UBND xã X, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tâm |