- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, con chung giữa chị Chi và anh Lâm"
- Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú C được ly hôn với anh Nguyễn Tú L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 12/2024/HNGĐ- ST Ngày: 14-3-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Hoàng Khương
2. Bà Quách Thị Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐ-TA ngày 27/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tú C, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp HT, xã VBN, huyện VT, tỉnh Kiên Giang. Chổ ở hiện nay: ấp BL, xã V L, huyện HD, tỉnh Bạc Liêu; có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tú L, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp HT, xã VBN, huyện VT, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L trên cở sở tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới vào năm 2016 và đăng ký kết hôn tại UBND xã VBN, huyện VT, tỉnh Kiên Giang ngày 16/7/2018. Vợ chồng chung sống đầm ấm được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm với nhau dẫn đến không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, bất hòa, mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành. Hiện vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau. Xét thấy, vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau, cuộc sống không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không còn, làm cho hôn nhân làm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 người con chung gồm cháu Nguyễn Tú T, sinh ngày 23/9/2017, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh L) và Nguyễn Tú Q, sinh ngày 13/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị C). Nay chị C yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Tú Q, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con và chị đồng ý giao cháu Nguyễn Tú T cho anh L nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tú L vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tú C đối với anh Nguyễn Tú L. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Tú T, sinh ngày 23/9/2017, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh L) cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Nguyễn Tú Q, sinh ngày 13/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị C) cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L, chị C được quyền tới lui, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú C có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét vắng mặt chị C.
Bị đơn anh Nguyễn Tú L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Vì vậy, căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh L.
Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Tú C yêu cầu xin ly hôn, giải quyết con chung với anh Nguyễn Tú L nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh L trên cơ sở yêu thương nhau tự nguyện kết hôn vào năm 2016 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/7/2018 theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và không còn tình cảm mặc dù đã được hai bên hàn gắn nhưng không thành, hiện anh chị đã sống ly thân. Về mâu thuẫn giữa anh chị được chính quyền địa phương xác nhận là có thật, anh chị thường xuyên mâu thuẫn cự cải, bất hòa, bất đồng với nhau về quan điểm sống. Anh chị hiện nay đã ly thân không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tú C.
Về quan hệ con chung: Chị C và anh L có 02 người con chung gồm cháu Nguyễn Tú T, sinh ngày 23/9/2017, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh L) và Nguyễn Tú Q, sinh ngày 13/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị C). Nay chị C yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Tú Q, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con và chị đồng ý giao cháu Nguyễn Tú T cho anh L nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Qua xác minh, hiện cháu T đang sống chung cùng anh L, cháu Q đang sống cùng với chị C cuộc sống được đảm bảo. Vì vậy, xét về lợi ích mọi mặt và để đảm bảo cuộc sống cho con nên căn cứ Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Tú T, sinh ngày 23/9/2017, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh L) cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Nguyễn Tú Q, sinh ngày 13/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị C) cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L, chị C được quyền tới lui, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí xin ly hôn: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Tú C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005290 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú C được ly hôn với anh Nguyễn Tú L.
2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tú T, sinh ngày 23/9/2017, giới tính nam (hiện con chung đang sống cùng anh L) cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con. Giao cháu Nguyễn Tú Q, sinh ngày 13/8/2021, giới tính nữ (hiện con chung đang sống cùng chị C) cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L, chị C được quyền tới lui, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu về tài sản chung, xác định không có nợ chung nên không xem xét.
4- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tú C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005290 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
5- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự chị C, anh L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Vĩnh Thuận; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thuận; - UBND xã Vĩnh Bình Nam; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng |