- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D yêu cầu ly hôn anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ THị Hồng D được ly hôn anh Phạm Đức T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-02-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY- TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hằng
2. Ông Đặng Minh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2024/TLST - HNGĐ ngày 20-11-2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24-01-2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ THị Hồng D, sinh năm 1998 – vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái.
2. Bị đơn: Anh Phạm Đức T, sinh năm 1995 – vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18-11-2024 và bản tự khai nguyên đơn chị Vũ THị Hồng D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Phạm Đức T tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 27-7-2016 (Giấy đăng ký số: 09 ngày 27-7-2016). Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại Thôn S, xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Phạm Đức T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên về nhà vô tâm lạnh nhạt với vợ con. Tháng 7 năm 2022, chị đã nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh Phạm Đức T tại Tòa án nhân dân huyện TY nhưng sau đó vợ chồng đã hòa giải về đoàn tụ với nhau. Sau khi về đoàn tụ với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Phạm Đức T không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Đức T.
Về con chung: Chị và anh Phạm Đức T có 02 con chung là Phạm Bảo V (sinh ngày 05-6-2016) và cháu Phạm Đức P (sinh ngày 30-10-2019). Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu Phạm Bảo V, để anh Thắng nuôi cháu Phạm Đức P. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 10-01-2025, anh Phạm Đức T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh đăng ký kết hôn với chị Vũ THị Hồng D tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 27-7-2016. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại Thôn S, xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái. Tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Duyên có quan hệ tình cảm ngoài luồng với người đàn ông khác, anh và gia đình đã nhiều lần yêu cầu chị Duyên chấm dứt nhưng chị Duyên không chấm dứt mối quan hệ này. Anh chị cũng đã sống ly thân từ năm 2023, không quan tâm đến nhau. Đến nay, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Duyên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Vũ THị Hồng D có 02 con chung là Phạm Bảo V (sinh ngày 05-6-2016) và cháu Phạm Đức P (sinh ngày 30-10-2019). Ly hôn, anh có nguyện vọng nuôi cháu Phạm Đức P, để chị Duyên nuôi cháu Phạm Bảo V. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản và nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo cho các đương sự đến Tòa án để hòa giải nhưng anh Phạm Đức T đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Phạm Đức T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn S, xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Vũ THị Hồng D thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ THị Hồng D và anh Phạm Đức T có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 27-7-2016 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống tại Thôn S, xã V, huyện TY, tỉnh Yên Bái. Anh chị công nhận tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chị Vũ THị Hồng D xác định là do anh Phạm Đức T không chung thủy còn anh Phạm Đức T thì xác định do chị Vũ THị Hồng D không chung thủy . Anh chị cũng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Chị Vũ THị Hồng D và anh Phạm Đức T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí ly hôn với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị Duyên và anh Thắng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho chị Vũ THị Hồng D được ly hôn anh Phạm Đức T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Vũ THị Hồng D và anh Phạm Đức T có 02 con chung là Phạm Bảo V (sinh ngày 05-6-2016) và cháu Phạm Đức P (sinh ngày 30-10-2019). Cháu Vy có nguyện vọng được ở với mẹ. Ly hôn, chị Duyên và anh Thắng đều có nguyện vọng để chị Duyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Vy, anh Thắng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phong. Nguyện vọng của các bên đương sự là chính đáng, vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần tiếp tục giao cháu Phạm Bảo V cho chị Vũ THị Hồng D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Phạm Đức P cho anh Phạm Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị Vũ THị Hồng D và anh Phạm Đức T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Vũ THị Hồng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ THị Hồng D được ly hôn anh Phạm Đức T.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Bảo V (sinh ngày 05-6-2016) cho chị Vũ THị Hồng D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Phạm Đức P (sinh ngày 30-10-2019) cho anh Phạm Đức T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ THị Hồng D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2024/0000579 ngày 18-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TY, tỉnh Yên Bái. Chị Vũ THị Hồng D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện TY; - Chi cục THADS huyện TY; - Các đương sự; - UBND xã V; - Lưu HS, TA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Duy |