- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC TỈNH QUẢNG N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22.01.2024 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Công Dung
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Thiên Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 182/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12-01-2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khu phố 3, phường Mỹ H, thành phố P, tỉnh NT.
- Bị đơn: Anh Võ Anh N, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Thôn Mỹ Thượng Đ (thôn 5 cũ), xã Tiên M, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng N.
Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Anh N tự nguyện tìm hiểu, sau đó đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND phường Mỹ Đông, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Qúa trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, đến năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là chị phát hiện anh Võ Anh N có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên thường xuyên xảy ra cải vả, gây gỗ với nhau, anh N đã có những lời lẽ xúc phạm đến chị. Chị đã có gắng chịu đựng với hi vọng anh N sẽ thay đổi tuy nhiên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Từ năm 2018 giữa chị và anh N đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, chị đã về quê Ninh Thuận sinh sống. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn đối với anh Võ Anh N.
Về con chung: Chị và anh N có với nhau 02 con chung tên Võ Nguyễn Thanh T, (sinh ngày 27 tháng 12 năm 2009) và Võ Nguyễn Thanh M, (sinh ngày 01 tháng 10 năm 2014). Qúa trình giải quyết vụ án, chị yêu cầu được nuôi con chung Võ Nguyễn Thanh M vì cháu M hiện nay đang sinh sống cùng chị, còn giao cháu Võ Nguyễn Thanh T cho anh Võ Anh N trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành vì cháu T hiện nay đang sinh sống cùng anh N, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Qúa trình giải quyết vụ án, anh Võ Anh N trình bày: Anh thừa nhận lời trình bày của chị Nguyễn Thị Ngọc H về thời gian và điều kiện kết hôn. Qúa trình chung sống thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể giải quyết được. Hiện nay anh và chị H đã không còn sống chung với nhau một thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
Anh thừa nhận vợ chồng có 02 con chung tên Võ Nguyễn Thanh T, (sinh ngày 27 tháng 12 năm 2009) và Võ Nguyễn Thanh M, (sinh ngày 01 tháng 10 năm 2014). Hiện nay, con chungVõ Nguyễn Thanh T đang sinh sống cùng với anh, được anh chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo, đảm bảo về mọi mặt. Do đó, khi ly hôn, anh yêu cầu tiếp tục được nuôi con chung Võ Nguyễn Thanh T cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; còn con chung Võ Nguyễn Thanh M hiện đang sinh sống cùng với chị H nên giao cháu M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi. Các bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nợ chung anh Võ Anh N không yêu cầu giải quyết.
Các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Bản sao trích lục kết hôn; bản sao giấy khai sinh của con; bản sao căn cước công dân; bản tự khai của các đương sự; các tài liệu liên quan đến quá trình tố tụng của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và hướng giải quyết vụ án: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn và bị đơn là đúng pháp luật.
Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Anh N; giao con chung Võ Nguyễn Thanh T cho anh Võ Anh N nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao con chung Võ Nguyễn Thanh M cho chị Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi; vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Võ Anh N đăng ký kết hôn năm 2008 tại UBND phường Mỹ Đông, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, anh Võ Anh N đang cư trú tại xã Tiên Mỹ, huyện Tiên Phước. Chị Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H và bị đơn anh Võ Anh N đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh N là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Võ Anh N xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn đúng thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp.
Tại bản khai của các đương sự đều thừa nhận hiện tại chị H và anh N đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai, không thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trên thực tế, các anh chị đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Theo đó Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị H và anh N không có điều kiện để tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Anh N là phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về con chung: Đối chiếu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Võ Anh N có 02 con chung tên Võ Nguyễn Thanh T, (sinh ngày 27 tháng 12 năm 2009) và Võ Nguyễn Thanh M, (sinh ngày 01 tháng 10 năm 2014). Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thống nhất thừa nhận hiện nay con Võ Nguyễn Thanh T đang sinh sống cùng với anh Võ Anh N, con Võ Nguyễn Thanh M hiện nay đang sinh sống cùng với chị Nguyễn Thị Ngọc H. Do đó, anh chị đều có yêu cầu giao con Võ Nguyễn Thanh T cho anh Võ Anh N nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao con Võ Nguyễn Thanh M cho chị Nguyễn Thị Ngọc H nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của trẻ em, giữ ổn định cuộc sống của các con nên chấp nhận yêu cầu của anh chị là phù hợp.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Anh Võ Anh N và chị Nguyễn Thị Ngọc H đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Anh Võ Anh N và chị Nguyễn Thị Ngọc H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự.
[2.4] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 51, 53, 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Võ Anh N.
- Về con chung: Giao con chung Võ Nguyễn Thanh T, (sinh ngày 27 tháng 12 năm 2009) cho anh Võ Anh N nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi; giao con chung Võ Nguyễn Thanh M, (sinh ngày 01 tháng 10 năm 2014) cho chị Nguyễn Thị Ngọc H nuôi dưỡng đến trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Võ Anh N và chị Nguyễn Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Võ Anh N và chị Nguyễn Thị Ngọc H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005537 ngày 14/12/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng N.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh, VKSND tỉnh; - VKSND huyện Tiên Phước; - Chi cục THADS huyện Tiên Phước; - UBND phường Mỹ Đông, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thanh Hải |