- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Kpă H'Ml và anh R'ô H"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 02/7/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA , TỈNH GIA LAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor P
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn L và bà Ksor H’Q
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hải B - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Việt H - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Kpă H’Ml, sinh năm 1990
Địa chỉ: Buôn Ekia, xã Ia Rsai, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai( Vắng mặt đã có đơn xin được xét xử vắng mặt)
+ Bị đơn: Anh R’Ô H (tên gọi khác: Rơ Ô H), sinh năm 1985
Địa chỉ: Buôn Du, xã Ia Rsai, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Kpă H’Ml trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh R’Ô H (tên gọi khác: Rơ Ô H) đã tìm hiểu và lấy nhau năm trên cơ sở tình cảm tự nguyện của hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã Ia Rsai, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai theo quy định của pháp luật ngày 14/10/2015. Trong quá trình chung sống, giữa chị và anh R’Ô H thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vả to tiếng với nhau xuất phát từ việc anh R’Ô H hay say xỉn, nhậu nhẹt bê tha và những nguyên nhân nhỏ nhặt, anh chị không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không thấu hiểu và thông cảm cho nhau nên cuộc sống vợ chồng nặng nề, không hạnh phúc. Mặc dù mâu thuẫn đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không được, anh chị đã ly thân từ lâu. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, vợ chồng không có chí hướng xây dựng gia đình, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh R’Ô H (tên gọi khác: Rơ Ô H).
Về con chung: Chị và anh R’Ô H có 02 (hai) con tên là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chưa thành niên là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh R’Ô H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn anh R’Ô H mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai hay ý kiến gì có trong hồ sơ vụ án.
Phát biểu ý kiến sau phần tranh luận, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; Tại phiên toà Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên toà cho đến trước khi nghị án;
Nội dung vụ án, Kiểm sát viên có quan điểm: Áp dụng Điều 28, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, , Điều 238, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 9, 51, 53, 54, 55, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 – Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm, xử:
- Về hôn nhân: Chị Kpă H’Ml được ly hôn với anh R’Ô H trước pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 (hai) con tên là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016 cho chị Kpă H’Ml trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh R’Ô H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Kpă H’Ml không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Kpă H’Ml phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.1] Về thông tin nhân thân của anh R’Ô H: Tại thời điểm đăng ký kết hôn, và tại sổ hộ khẩu số 210228124 đều ghi tên R’Ô H, tuy nhiên tại Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã Ia Xã Ia Rsai cung cấp ghi tên Rơ Ô H. Tòa án đã tiến hành xác minh tại buôn Ekia, xã Ia Rsai và làm việc với bà Rơ Ô H’P (là mẹ đẻ của anh R’Ô H), tất cả đều xác nhận R’Ô H và Rơ Ô H đều là một người, do phiên âm tiếng dân tộc Jrai nên có sự khác nhau trong việc ghi tên do đó có căn cứ khẳng định anh R’Ô H có tên gọi khác (tên thường gọi) là Rơ Ô H.
[1.2] Về việc tham gia tố tụng của đương sự: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh R’Ô H như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập…theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh R’Ô H không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng; Giai đoạn xét xử vụ án Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh R’Ô H vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Còn nguyên đơn chị Kpă H’M đã nhận được quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn xin được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như trong đơn xin được xét xử vắng của nguyên đơn để quyết định. Các đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về hôn nhân: Chị Kpă H’Ml và anh anh R’Ô H (tên gọi khác: Rơ Ô H) đi đến hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân xã Ia Rsai, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai vào ngày 14/10/2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống chị Kpă H’Ml và anh R’Ô H có phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt nghiêm trọng. Chị Kpă H’Ml và anh R’Ô H không chung sống với nhau từ lâu, hiện tình cảm chị giành cho anh R’Ô H đã hết nên chị đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh R’Ô H trước pháp luật.
Ngày 19/4/2024, Tòa án đã xác minh tại nhà mẹ đẻ của anh R’Ô H và ngày 02/5/2024 tại buôn EKia, xã Ia Rsai, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai về những mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Kpă H’Ml và anh R’Ô H. Kết quả xác minh thể hiện việc chị Kpă H’Ml và anh R’Ô H đôi lúc xảy ra mâu thuẫn, to tiếng với nhau, anh chị đã không chung sống với nhau trong thời gian dài.
Hội đồng xét xử, xét mâu thuẫn giữa chị Kpă H’Ml và anh R’Ô Hi đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn với anh R’Ô H của chị Kpă H’Ml là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[3] Về con chung: chị Kpă H’Ml và anh R’Ô H có 02 (hai) con tên là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016. Sau khi ly hôn, chị Kpă H’Ml có nguyện vọng được nuôi con là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016. Do anh R’Ô H không đến Tòa án, không có quan điểm, trình bày nguyện vọng; bên cạnh đó, tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 08/4/2024 các cháu Kpă Ch và Kpă H’Y đều có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Kpă H’Ml nên cần giao con là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016 cho chị Kpă H’Ml chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích cho chị Kpă H’Ml biết về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì lợi ích của con của người trực tiếp nuôi con nhưng chị Kpă H’Ml vẫn không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con là anh R’Ô H phải cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, hiện tại anh R’Ô H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Kpă H’Ml không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Kpă H’Ml phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 4, 5, 6; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Khoản 1; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Kpă H’Ml được ly hôn với anh R’Ô H (tên gọi khác: Rơ Ô H) trước pháp luật.
- Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao 02 (hai) con tên là Kpă Ch, sinh ngày 11/11/2010 và Kpă H’Y, sinh ngày 25/3/2016 cho chị Kpă H’Ml được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh R’Ô H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh R’Ô H được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Nếu anh R’Ô H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Chị Kpă H’Ml cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Kpă H’Ml không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chị Kpă H’Ml phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004199 ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Chị Kpă H’Ml đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Kpă H’Ml và anh R’Ô H (tên gọi khác: Rơ Ô Hiếu) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Thành viên hội đồng xét xử
-
| Nguyễn Văn L - | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ksor H’Q Ksor P |