vanban.org

Bản án 12/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Mộng N đối với anh Hà Văn T.

Về con chung: Giao cháu Hà Khánh B, sinh ngày 01/4/2016 cho chị Nguyễn Mộng N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Mộng N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Mộng N - Hà Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Mộng N đối với anh Hà Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HẢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 – 01 – 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ghết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tịnh

2. Ông Đỗ Kim Phụng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Sơn – Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 629/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mộng N, sinh năm 1997

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1978

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu

(nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Mộng N trình bày: Chị và anh Hà Văn T xây dựng hôn nhân năm 2015, có tổ chức lể cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Vợ chồng chị chung sống có 01 con chung là Hà Khánh B, sinh ngày 01/4/2016. Hiện cháu B đang sống cùng với chị N.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị thường xảy ra mâu thuân do không hợp tính tình, thường xuyên cự cải với nhau. Vợ chồng chị đã nhiều lần hàn găn nhưng không được. Vợ chồng chị đã sống ly thân 03 năm nay. Xét thấy không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu ly hôn với anh Hà Văn T. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Hà Khánh B, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh Hà Văn T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Em Hà Khánh B trình bày nguyện vọng được sống cùng mẹ là Nguyễn Mộng N. Đây là ý chí tự nguyện của em Hà Khánh B.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các quyết định nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 28, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Mộng N đối với anh Hà Văn T; Con chung: Giao cháu Hà Khánh B, sinh ngày 01/4/2016 cho chị Nguyễn Mộng N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Hà Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hà Văn T có địa chỉ thường trú tại ấp P, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải. Nguyên đơn chị Nguyễn Mộng N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hà Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Mộng N và anh Hà Văn T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị N và anh T là tự nguyện và hợp pháp. Chị Nguyễn Mộng N xác định hiện nay hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm lẫn nhau và đã không còn yêu thương nhau. Thực tế chị N và anh T đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân giữa chị N và anh T không có biện pháp nào để hàn gắn hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Hà Văn T để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị Nguyễn Mộng N và chị Hà Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Mộng N đối với anh Hà Văn T.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Mộng N yêu cầu nuôi cháu Hà Kháng B1, sinh ngày 01/4/2016. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu B1 hiện đang sống ổn định cùng chị Nguyễn Mộng N; Chị N có công việc, thu nhập ổn định có đủ điều kiện nuôi cháu B1. Đồng thời cháu B1 có nguyện vọng được sống cùng chị Nguyễn Mộng N. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Mộng N, tiếp tục giao cháu Hà Khánh B cho chị Nguyễn Mộng N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Hà Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chị Nguyễn Mộng N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Mộng N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Mộng N phải chịu án phí sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228,Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Mộng N đối với anh Hà Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Khánh B, sinh ngày 01/4/2016 cho chị Nguyễn Mộng N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Mộng N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Mộng N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Chị N đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009670 ngày 31/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải được chuyển thu án phí.

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ