- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H Nan + Y Drung"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂKLĂK Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 03 - 2024 V/v: “Kiện ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Hương và ông Y Tha Mlô
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư Mgar
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 355/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Kiện ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 08/01/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST – HNGĐ ngày 05/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H N Adrơng; sinh năm 1989 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Y D Êban; sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cùng trú tại: Buôn EM, TT EP, huyện CM, tỉnh Đăk Lăk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai của nguyên đơn chị H N Adrơng trình bày:
Tôi và anh Y D Êban có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 28/12/2010 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ea Pôk, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng thường xuyên cải nhau, chồng tôi không chăm sóc vợ con và sống với nhau không hạnh phúc và chúng tôi đã ly thân với nhau 5 năm nay. Vì vây, tôi làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar giải quyết cho được ly hôn với anh Y D Êban.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu H T Adrơng, sinh ngày 15/11/2010. Hiện nay tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu H T Adrơng nên tôi có nguyện vọng tiếp tục nuôi cháu cho đến khi cháu H T Adrơng đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Y D Êban phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Cư Mgar đã triệu tập anh Y D Êban để giao thông báo thụ lý vụ án, làm bản tự khai, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Y D Êban vẫn vắng mặt không có lý do. Qua xác minh tại chính quyền địa phương vào ngày 06/11/2023 được biết anh Y D Êban có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa phương.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:
- Đối với Thẩm Phán: đã thực đầy đủ các quy đinh của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện đúng thời hạn xét xử.
- Đối với Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Đối với đương sự:
Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị: Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H N Adrơng; Chị H N Adrơng được ly hôn với anh Y D Êban. Giao cháu H T Adrơng, sinh ngày 15/11/2010 cho chị Chị H N Adrơng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H T Adrơng đủ 18 tuổi. Chị H N Adrơng không yêu cầu anh Y D Êban phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H N Adrơng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:
Chị H N Adrơng yêu cầu được ly hôn và con chung với anh Y D Êban nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Anh Y D Êban có đăng ký nhân khẩu tại thị trấn Ea Pôk, huyện Cư Mgar. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Cư Mgar nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh Y D Êban vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H N Adrơng và anh Y D Êban có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 28/12/2010 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ea Pôk, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa chị H N Adrơng và anh Y D Êban thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hạnh phúc và hiện nay đã sống ly thân được 5 năm. Nay chị H N Adrơng yêu cầu được ly hôn với anh Y D Êban, xét yêu cầu của chị H N Adrơng là phù hợp vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị H N Adrơng và anh Y D Êban đã trầm trọng, việc chị H N Adrơng yêu cầu được ly hôn với anh Y D Êban là chính đáng cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị H N Adrơng và anh anh Y D Êban có 01 con chung là cháu H T Adrơng, sinh ngày 15/11/2010. Hiện nay cháu H T Adrơng đang được chị H N Adrơng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và chị H N Adrơng cũng có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc cháu H T Adrơng cho đến khi cháu H T Adrơng đủ 18 tuổi, cháu H T Adrơng cũng có nguyện vọng được ở với chị H N Adrơng nên Hội đồng xét xử xét thấy xét nguyện vọng của chị H N Adrơng là chính đáng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện nay. Vì vậy, giao H T Adrơng cho chị H N Adrơng tiếp tục để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H T Adrơng đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H N Adrơng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H N Adrơng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H N Adrơng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng vào các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H N Adrơng
Về quan hệ hôn nhân: Chị H N Adrơng được ly hôn với anh Y D Êban
Về con chung: Giao cháu H T Adrơng, sinh ngày 15/11/2010 cho chị H N Adrơng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu H T Adrơng đủ 18 tuổi
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H N Adrơng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh Y D Êban được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H N Adrơng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình:
Chị H N Adrơng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị H N Adrơng đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0014619 ngày 10/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) ĐẶNG NGỌC THẮNG |