vanban.org

Bản án 12/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 10/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tạm giam bị cáo: Triệu Văn Sáng, sinh năm 1995

Nơi cư trú: thôn Ngọc Đèn, xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tạm giam bị cáo: Triệu Văn Sáng, sinh năm 1995
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HSST
Ngày 10/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn.

Bà Nguyễn Thị Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Thư ký tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2023 tại hội trường nhà Văn hóa UBND xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/HSST, ngày 21/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS, ngày 27/02/2023 đối với bị cáo:

Triệu Văn S, sinh ngày 30 tháng 8 năm 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn N, xã N, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Triệu Đức T, sinh năm 1973 (đã chết) và con bà Khổng Thị N, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2022 đến nay, (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Trung N, sinh năm 1978.Trú tại: TDP B, thị trấn T, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Triệu Văn S, trú tại thôn N, xã N, huyện Sông Lô là đối tượng nghiện ma túy nên thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29 tháng 11 năm 2022, S đang làm thuê phá dỡ nhà cũ của gia đình bà Hà Thị T, ở thôn Nn, xã N, huyện Sông Lô thì có Nguyễn Trung N, trú tại TDP B, thị trấn T, huyện Sông Lô một mình đi bộ đi qua. Gặp S, N hỏi “Để anh con 500.000đ?” Ý N hỏi S có ma túy không, bán cho N 500.000đ. S đồng ý. N đưa cho S 500.000đ, Sáng cầm tiền đúc vào túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc rồi chuẩn bị đưa cho N một gói ma túy thì bị lực lượng công an huyện Sông Lô phát hiện. Do hoảng sợ, S ném gói ma túy xuống nền nhà gần vị trí S và Nn đứng nhưng vẫn bị lực lượng công an phát hiện, thu giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ: 01 gói ma túy gói ngoài bằng giấy lịch màu xanh trắng bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng tại nền nhà gần vị trí S và N đang đứng, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A1. S khai nhận đây là gói ma túy của S đang bán cho N và 01 gói nhỏ ma túy gói ngoài bằng giấy báo cài ở mặt sau vỏ bao thuốc lá Thăng Long tại mặt tủ nơi S đang phá dỡ nhà, được niêm phong trong phong bì kí hiệu A2. S khai nhận đây là ma túy của Sáng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel của S và 500.000đ (01 tờ 200.000đ và 03 tờ 100.000đ) tại túi áo ngực phía trước bên trái đang mặc của S. S khai nhận đây là tiền N mua ma túy đưa cho S.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô đã tiến hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sáng nhưng không thu giữ gì.

Ngày 29/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Lô có Quyết định trưng cầu giám định số 308 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định mẫu A1 có phải là ma túy không? Loại ma túy gì? Khối lượng mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Ngày 03/12/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 3587/KLGĐ, kết luận:

“1. Chất cục, bột màu trắng của mẫu kí hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2379g, không kể bao bì, loại Heroine.

2. Chất cục, bột màu trắng của mẫu kí hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0100g, không kể bao bì, loại Heroine.”

Về nguồn gốc ma túy, Sáng khai nhận, mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bến xe buýt xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 500.000đ. Sau đó, Sáng chia thành 02 gói để bán. Do không xác định được con người cụ thể nên Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô không có căn cứ để xử lý.

Đối với 0,0100g ma túy, loại Heroine thu giữ được tại vị trí mặt sau bao thuốc lá Thăng Long trên mặt tủ, Sáng khai nhận nếu ai hỏi mua sẽ bán. Vì vậy, có căn cứ để xác định Triệu Văn S có mục đích bán trái phép chất ma túy, có tổng khối lượng là 0,2479g.

Đối với Nguyễn Trung N tự khai nhận là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 29/11/2022, N chưa nhận được ma túy từ S nên không có căn cứ để xử lý. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT công an huyện Sông Lô đã có văn bản thông báo, trao đổi với UBND thị trấn T, huyện Sông Lô để xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp đối với N.

Đối với bà Hà Thị T là chủ nhà, khi thuê phá dỡ nhà cũ, bà T hoàn toàn không biết S bán ma túy tại nhà cũ của mình nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKSSL ngày 20/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Triệu Văn S về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn S từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Triệu Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/11/2022, tại ngôi nhà cũ ở thôn L, xã N, huyện Sông Lô, bị cáo có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, có khối lượng là 0,2379g, loại Heroine cho Nguyễn Trung N ở TDP B, thị trấn T, huyện Sông Lô với giá 500.000đ thì bị lực lượng Công an huyện Sông Lô bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 0,0100g ma túy, loại Heroine để bán trái phép thì bị thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Triệu Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Do đó bản cáo trạng số: 17/CT-VKSSL ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Triệu Văn Sáng về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bị oan.

Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, an ninh ở địa phương nhất là trong giai đoạn hiện nay Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương, biện pháp đấu tranh không khoan nhượng đối với các loại tội phạm về ma tuý nhưng trên địa bàn xã Nhạo Sơn nói riêng và huyện Sông Lô nói chung tội phạm về ma tuý diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nó cũng là mầm mống nảy sinh những tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật tài sản......Do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe những kẻ khác góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt tù cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, luôn có ý thức chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa bị cáo xác nhận là người nghiện ma túy, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng có giá trị. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định A1 = 0,2164g ma túy heroin, A2 = 0,0000g và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ”; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ N mua ma túy của S.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Masstel không liên quan đến việc bán trái phép chất ma túy nên trả lại cho S nhưng tạm giữ đảm bảo Thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2/ Điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt: Triệu Văn S 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 11 năm 2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo Sáng để đảm bảo thi hành án.

3/ Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định A1 = 0,2164g ma túy heroin, A2 = 0,0000g và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ”; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 500.000đ Nguyên mua ma túy của S.

Trả lại cho Triệu Văn S 01 chiếc điện thoại di động Masstel không liên quan đến việc bán trái phép chất ma túy nhưng tạm giữ đảm bảo Thi hành án. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2023 của cơ quan Công an huyện Sông Lô với Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Triệu Văn S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật./. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; -TAND tỉnh Vĩnh Phúc; -Chi cục THA dân sự huyện Sông Lô; -Công an huyện Sông Lô; -UBND xã N;

- Trại giam CA tỉnh;

Nguyễn Kiên Thành

- Bị cáo; Người có QLNV liên quan; -Lưu hs; Vp. TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào 10 hồi giờ 15 phút ngày 10 tháng 3 năm 2023.

Tại: Phòng làm việc Nhà văn hóa UBND xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô,

Vĩnh Phúc.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hồng.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Triệu Văn Sáng, sinh năm 1995.

Nơi cư trú: thôn Ngọc Đèn, xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1/ Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

2/ Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

3/ Về tội danh và Điều luật áp dụng: có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Triệu Văn Sáng phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

4/ Về hình phạt: Phạt: Triệu Văn Sáng 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 11 năm 2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo Sáng để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

5/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định A1 = 0,2164g ma túy heroin, A2 = 0,0000g và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ”; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 500.000đ Nguyên mua ma túy của Sáng.

Trả lại cho Triệu Văn Sáng 01 chiếc điện thoại di động Masstel không liên quan đến việc bán trái phép chất ma túy nhưng tạm giữ đảm bảo Thi hành án. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2023 của cơ quan Công an huyện Sông Lô với Chi cục thi hành án huyện Sông Lô).

6/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Triệu Văn Sáng phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

7/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Sông Lô trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

8/ Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí = 100%.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 10 tháng 3 năm 2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Mạnh Tuấn

Nguyễn Thị Hồng

Nguyễn Kiên Thành

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN SÔNG LÔ

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Sông Lô ngày 10 tháng 3 năm 2023 Số: 06/2023/HSST-QĐTG

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hồng.

Căn cứ vào các Điều 109, 113, 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào biên bản nghị án ngày 10/3/2023 của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc Thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tạm giam bị cáo: Triệu Văn Sáng, sinh năm 1995

Nơi cư trú: thôn Ngọc Đèn, xã Nhạo Sơn, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bị Toà án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29 tháng 11 năm 2022.

Thời hạn tạm giam là: 45 (Bốn mươi năm) ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 10/3/2023.

2/ Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc có trách nhiệm Thi hành quyết định này.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ