vanban.org

Bản án 12/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 12/2023/HSST
Ngày 05/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lừ Văn Hùng

2. Bà Lò Thị Hoan

Thư ký Toà án: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Máy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2022/TLST – HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo.

1/ Họ và tên: Lý Thị N, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1964 tại xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn; Không biết chữ; Đảng phái đoàn thể: Không; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo; Không; Con ông: Lý Sồng D và bà Hờ Thị S (đều đã chết); Bị cáo có chồng là Hàng Súa P và có 07 con, con lớn nhất 33 tuổi, con nhỏ nhất 15 tuổi. Đều trú tại: Bản K, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La.

Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2/ Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A C; trú tại bản P, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La; Có mặt

3/ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Lý Thị N: Luật sư ông Đàm Mạnh Hùng - Cộng tác viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/8/2022 Lý Thị N có hành vi tàng trữ 0,14 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: - 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy.

Cùng ngày Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm ma túy và thử thai đối với Lý Thị N, kết quả: Lý Thị N dương tính với chất ma túy và Lý Thị N không mang thai.

Ngày 30/8/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Q phối hợp với các cơ quan chức năng thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong và tiến hành cân tịnh, lấy mẫu giám định; Kết quả số chất cục, bột màu trắng thu giữ của Lý Thị N có khối lượng là 0,14 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1.

- Tại bản kết luận giám định số: 1466/KL - KTHS ngày 31/8/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0, 14 gam; loại Heroine”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 29/8/2022 Lý Thị N đi bộ từ nhà về hướng bản H, xã M, huyện Q tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân, khi đến bản H, N gặp một người đàn ông không quen biết, đang đi bộ ngược chiều, nên N hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng với số tiền là 50.000đ. Mua được ma túy N vào khu vực vệ đường trích lấy một ít sử dụng bằng hình thức đốt hít, số còn lại N gói lại cầm ở tay trái rồi đi về nhà. Trên đường về đến khu vực bản K, xã M thì bị tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 57/CT - VKS - QN ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Lý Thị N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý Thị N; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Thị N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Về hình phạt tù; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lý Thị N từ 14 (Mười bốn) đến 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2022.

Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005875 của Công an tỉnh Sơn La.

Bị cáo Lý Thị N không phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Lý Thị N tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có trình độ văn hóa, hiểu biết pháp luật thì hạn chế và điều kiện, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên. Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (12 tháng tù giam) cũng đủ để răn đe phòng ngừa chung đối với bị cáo. Tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về đoàn tụ với gia đình, xã hội. Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Một lần nữa, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Lý Thị N đề nghị HĐXX xem xét đầy đủ khách quan, toàn diện các tình tiết, về nguyên nhân, điều kiện, mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân của bị cáo, cho bị cáo Lý Thị N được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Lý Thị N nhất trí với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo tại phiên tòa và không có ý kiến gì bổ sung gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo Lý Thị N khai nhận, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố đối với bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng bị cáo đã nhận do Kiểm sát viên đã tống đạt cho bị cáo. Do hành vi của bị cáo đã rõ rằng, nên bị cáo Lý Thị N, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Lý Thị N không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa.

C¨n cø vµo c¸c chøng cứ vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với các căn cứ khác: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0, 14 gam”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.

Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 29/8/2022 tại bản K, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La, Công an huyện Q, tỉnh Sơn La bắt quả tang Lý Thị N về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt kiệt nhân lực, tài chính và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, “quy định khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù”; Tại phiên tòa bị cáo Lý Thị N thừa nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề trồng trọt, không có tài sản có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Lý Thị N khai là mua với 01 người đàn ông không quen biết tại bản H, xã M, huyện Q vào ngày 29/8/2022 nhưng bị cáo Ninh không biết địa chỉ cụ thể của người bán ma túy cho bị cáo. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xác minh. Do đó buộc bị cáo Lý Thị N phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ 0,14 gam Heroine thu giữ nêu trên.

Vật chứng vụ án: - 01 phong bì công văn của Công an huyện Qđược niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005875 của Công an tỉnh Sơn La là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Lý Thị N không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. (Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo có giấy xác nhận của UBND xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La).

Vì các lẽ trên:

QuyÕt ®Þnh:

1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lý Thị N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Lý Thị N 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2022.

Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

2/ Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 005875 của Công an tỉnh Sơn La.

Theo biên bản bàn giao vật chứng số 09/2023 ngày 24/11/2022 giữa Công an huyện Q, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Sơn La.

3/ Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Lý Thị N được miễn 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lý Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 05/01/2023./. N¬i nhËn:

T/m.héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND TØnh

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh

- VKSND huyện (02)

- C«ng an (02)

- THA h×nh sù

- THA d©n sù

- UBND xã

- BÞ c¸o

Bàn Văn Hoàng

- L u ¸n v¨n

- L u hå s¬. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ