vanban.org

Bản án 12/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 18/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng pháp luật: Áp dụng khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt TrầnAnh Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KG
Bản án số: 12/2023/HSST
Ngày: 18/01/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Điền

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Phƣớc Lộc

2/ Ông Dƣơng Tấn Đấu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Đình Toàn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dũng– Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh KG xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2022/TLST - HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2022/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2023/HSST- QĐ ngày 03/01/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Anh Đ, sinh năm 1993.

Tại: ML-NĐ

Nơi cư trú: Số 01/35/124 THL, phường TT, thành phố NĐ, tỉnh NĐ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Xuân Ng, sinh năm 1961 (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng M, sinh năm 1970 (còn sống); Em có 01 người sinh năm 2000; bị cáo chưa có vợ.

Tiền án: chưa

Tiền sự:

Ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận LB, thành phố HN Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 17/10/2020 chấp hành xong.

Về nhân thân: Ngày 30/9/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh NĐ tuyên phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 24/5/2012.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hàng Phƣơng Tr, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp CL, xã DT, thành phố PQ, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 17/7/2022 đến ngày 25/7/2022, Trần Anh Đ nhận ma túy của người đàn ông tên Ch (chưa rõ nhân thân) đem đến khu vực Bungalow H thuộc ấp CL, xã DT, thành phố PQ để bán cho người mua 03 lần, mỗi lần bán, Đ được Ch trả tiền công 300.000 đồng, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ, ngày 17/7/2022, Ch đưa cho Đ 01 bịch nylong màu đen, bên trong có chứa ma túy ở gần khu vực Bungalow H. Đ đem bịch ma túy đến Bungalow H để bán cho một người thanh niên (chưa rõ nhân thân) với giá 3.900.000 đồng, Đ đem tiền về đưa lại cho Chế. Ch trả tiền công cho Đ 300.000 đồng, Đ đã tiêu xài hết (Bút lục số 37, 42).

- Lần thứ hai: Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 23/7/2022, Ch đưa cho Đ 01 bịch ma túy ở gần khu vực Bungalow H. Đ đem bịch ma túy đến Bungalow H bán cho một người thanh niên (chưa rõ nhân thân) với giá 4.200.000 đồng, Đ đem tiền về đưa lại cho Chế, Ch trả tiền công cho Đ 300.000 đồng, Đ đã tiêu xài hết 200.000 đồng, còn lại 100.000 đồng (Bút lục số 37, 42).

- Lần thứ ba: Vào khoảng 20 giờ ngày 25/7/2022, Đ đang ở phòng trọ không tên thuộc ấp CL, thì có một người thanh niên (chưa rõ nhân thân) đến đưa cho Đ 01 bịch nylong bên trong có chứa 02 bịch ma túy, 05 viên ma túy và nói Ch kêu Đ đem đến khu vực Bungalow H thuộc ấp CL, xã DT để bán cho người mua. Đ nhận và cất giấu số ma túy vào hộc phía trước đầu xe môtô hiệu Yamaha, loại Nozza, biển kiểm soát 68P1-080.95 của Ch đưa cho Đ sử dụng trước đó để giao ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe đến trước khu vực Bungalow H tìm người bán ma túy thì bị Công an thành phố PQ kiểm tra phát hiện nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 02/8/2022, Trần Anh Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố PQ khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 Điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi, đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam 100.000 đồng.

- 01 Xe mô tô loại Yamaha, hiệu Nozza, biển số 68P1-080.95, đã qua sử dụng.

- 01 Bịch nylon màu trắng, có rãnh gài, viền màu đỏ, kích thước 5,1cm x 8,7cm, bên trong có chứa 05 viên nén màu xanh, hình kim cương, đã được niêm phong;

- 01 Bịch nylon màu trắng, có rãnh gài, viền màu xanh, kích thước 1,8cm x 2,5cm; 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền, màu đỏ, kích thước 3,9cm x 4,2cm, bên trong 02 bịch đều chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong.

* Tại bản kết luận giám định số 710/KL- KTHS ngày 01/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh KG kết luận:

- 05 viên nén màu xanh, hình kim cương chứa trong 01 bịch nylong được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,1516 gam.

- Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, lại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,3210 gam.

Căn cứ Điều 5 Nghị định số 18/NĐ- CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của 02 chất ma túy là 54,637%.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số: 148/KSĐT-MT ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ truy tố bị cáo Trần Anh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Anh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo: Trần Anh Đ từ 04 (bốn) năm đến từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu huỷ:

- 05 viên nén màu xanh, hình kim cương chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là 1,9883 gam.

- Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, lại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,2305 gam.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 Điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi, đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam 100.000 đồng.

- 01 xe mô tô loại Yamaha, hiệu Nozza, biển số 68P- 080.95, đã qua sử dụng.

Đề nghị hội đồng xét xử truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo là 500.000 đồng

Đối với người thanh niên tên Ch chưa rõ nhân thân đã đưa ma tuý bị cho bị cáo bán cho các con nghiện do chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quyết định truy tố cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ.

Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố PQ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Anh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh KG và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 17/7/2022 đến ngày 25/7/2022 tại khu vực Bungalow H thuộc ấp CL, xã DT, thành phố PQ, Trần Anh Đ nhận ma túy của người đàn ông tên Ch (chưa rõ nhân thân) bán cho người mua 02 lần, với số tiền 8.100.000 đồng, Ch trả tiền công cho Đ 600.000 đồng. Đến khoảng 21giờ, ngày 25/7/2022, Đ tiếp tục nhận của Ch 2,1516 gam ma túy, loại MDMA và 2,3210 gam ma túy, loại Ketamine, tổng tỷ lệ khối lượng của 02 chất là 54,637%, đem đến khu vực Bungalow H để tìm người bán thì bị Công an thành phố PQ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo 2 Điều 251 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời để phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo tự thú về hành vi phạm tội trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ:

- 02 viên nén màu xanh, hình kim cương chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là 1,9883 gam.

- Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, lại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,2305 gam.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 Điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi, đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam 100.000 đồng.

- 01 xe mô tô loại Yamaha, hiệu Nozza, biển số 68P- 080.95, đã qua sử dụng.

- Buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước với số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

Đối với người thanh niên tên Ch chưa rõ nhân thân đã đưa ma tuý bị cho bị cáo bán cho các con nghiện do chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[6]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố PQ về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng pháp luật: Áp dụng khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt TrầnAnh Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.

3. Về biện pháp tƣ pháp:

+ Tịch thu tiêu huỷ:

- 05 viên nén màu xanh, hình kim cương chứa trong 01 bịch nylong được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,9883 gam.

- Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, lại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,2305 gam.

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 Điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi, đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam 100.000 đồng.

- 01 xe mô tô loại Yamaha, hiệu Nozza, biển số 68P- 080.95, đã qua sử dụng.

- Buộc bị cáo nộp vào Ngân sách Nhà nước với số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.

Đối với người thanh niên tên Ch chưa rõ nhân thân đã đưa ma tuý bị cho cáo bán cho các con nghiện do chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hàng Phương Tr vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KG xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ