- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Lộc phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HSST Ngày 29 - 6 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Nguyễn Thị Thanh
+ Bà Đỗ Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Tráng Seo Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại nhà văn hóa đa năng xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 25/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS, ngày 15/6/2023 đối với bị cáo.
Họ và tên:Trần Xuân L; Tên gọi khác:không, sinh ngày 13/3/1987, tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: thôn Đồng M 2, xã Phúc Kh, huyện B, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quốc S và bà Nông Thị L ; Vợ là:Hoàng Thị Ph (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2014; tiền án: không, tiền sự: không; Nhân thân:xấu; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 14/4/2023, Trần Xuân L đang ở xã N, huyện B thì Tô Hùng C, trú tại tổ dân phố B 1, thị trấn B, huyện B gọi điện cho L nhờ mua hộ ma túy để sử dụng nhưng L không đồng ý vì không có xe đi. C tiếp tục gọi điện nhờ L mua ma túy và bảo L đi xe ôm xuống xã B lấy xe mô tô của C đi mua ma túy hộ. L đồng ý, vì L cũng có nhu cầu sử dụng ma túy. Sau đó L đi ra cổng Đền Bắc Hà thuê xe ôm của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ xuống thôn B 2, xã B gặp C. C để chiếc xe mô tô HONDA Blade màu trắng đen biển số 24B2-200.21 ở vỉa hè, C đưa chìa khóa xe cho L và bảo trong cốp xe có sẵn tiền mua ma túy rồi. L mở cốp xe thì thấy có 700.000 đồng trong cốp, L lấy 100.000 đồng trả tiền xe ôm, sau đó L điều khiển xe mô tô trên của C ra thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng thì gặp người tên là H khoảng 25 tuổi nhà ở xã Th, huyện B, do trước đây L quen H tại trại cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Lào Cai. L nhờ H mua hộ ma túy với số tiền là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), còn 100.000 đồng L giữ lại cất vào túi quần để mua xăng đi về, chờ khoảng 30 phút thì H mua được ma túy quay lại dẫn L vào đoạn đường mòn cách đường quốc lộ 4E khoảng 200 mét. H mở gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma túy, H dùng tay lấy một phần ma túy trong gói giấy bạc ra cùng L sử dụng. Phần còn lại gói lại đưa cho L cất giấu vào dây sữa Fami L mới mua trước đó treo trên xe của L. Số ma túy H lấy ra sử dụng không hết H gói lại vào tờ giấy bạc và đưa cho L cất vào túi quần đang mặc trên người. Sau đó L điều khiển xe mô tô mang ma túy về cho C. Đến khoảng 18 giờ 30 phút khi L về đến thôn B 2, xã B, huyện B thì bị tổ công tác Công an huyện B kiểm tra. L đã tự nguyện lấy 02 gói ma túy và số tiền 100.000 đồng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tổ công tác đưa Trần Xuân L về trụ sở Công an xã B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số: 132/GĐMT ngày 18/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,12 (không phẩy mười hai) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Trần Xuân L gửi giám định là loại chất ma túy (Hêrôin).
Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKS-BH, ngày 23/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Xuân L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Xuân L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Xuân L từ 01năm đến 01 năm 03 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy 0,07 gam chất ma túy (Hêrôin) là vật chứng hoàn lại sau giám định được đựng trong 01 bì thư in sẵn, được niêm phong theo quy định có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ án Trần Xuân L có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện thu giữ ngày 14/4/2023 tại thôn B 2, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai”. Trả lại 01 chiếc điện thoại và số tiền 100.000 đồng cho bị cáo L, tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Trần Xuân L nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Xuân L: Khoảng 15 giờ, ngày 14/4/2023 bị cáo L điều khiển xe mô tô biển số 24B2-2021 của Tô Hùng C từ Bảo Nhai đi ra thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng. L nhờ H mua hộ ma túy với 500.000đ (năm trăm nghin đồng). Sau khi H mua được ma túy đã cùng L lấy một phần ra sử
̀ dụng. Phần còn lại H gói lại đưa cho L cất giấu vào dây sữa Fami Lộc mới mua trước đó treo trên xe của L. Số ma túy H lấy ra sử dụng không hết H gói lại vào tờ giấy bạc đưa cho L. L cất số ma túy vào túi quần đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô đi về xa B . Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công̃ an huyện Bắc Hà bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt quả tang, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Xuân L đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp 0,12 gam chất ma túy (Hêrôin). Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy.Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Nên cần đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
3.2.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, đã chấp hành xong. Lẽ ra sau khi được tái hòa nhập cộng đồng bị cáo phải lấy đó làm bài học tự sửa chữa sai lầm của bản thân, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xem xét tuyên mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm ngăn răn, đe giáo giục và phòng ngừa chung.
.Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì, nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Các vấn đề khác:
- Đối với Tô Hùng C đã cho L mượn xe mô tô biển số 24B2-200.21, quá trình điều tra mở rộng đối chất, C không thừa nhận đã nhờ L đi mua hộ ma túy, không có đủ chứng cứ khác để chứng minh C phạm tội, nên cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà không đề cập xử lý C là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với người đàn ông tên H mà bị cáo khai đã mua hộ ma túy cho Trần Xuận L nhà ở xã Thái Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra xác minh, không có đủ thông tin xác minh làm rõ hành vi phạm tội của người có tên Hiếu đó, vì vậy không đề cập xử lý.
.Về vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 24B2-200.21 xác định chiếc xe là của anh Tô Hùng C, anh C không biết Lộc sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà đã trả lại xe cho C là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với 0,12 gam chất ma túy (Hêrôin) thu giữ của Trần Xuân Lộc, sau khi trích mẫu giám định 0,05 gam chất ma túy (Hêrôin), còn lại 0,07 gam chất ma túy (Hêrôin) được đựng trong 01 bì thư in sẵn, được niêm phong theo quy định có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ án Trần Xuân L có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện thu giữ ngày 14/4/2023 tại thôn Bảo Tân 2, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai”. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15s màu xanh - đen bên trong có 01 sim Viettell (điện thoại cũ đã qua sử dụng) và số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo L. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho Lộc. Nhưng do, bị cáo L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Do vậy, cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. Số tiền trên hiện Công an huyện Bắc Hà đang tạm gửi vào tài khoản số 394901053629 mở tại Kho bạc nhà nước huyện Bắc Hà
.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí vụ án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân Lộc phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Xuân L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 14 tháng 4 năm 2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự:
-Tịch thu để tiêu hủy 0,07 gam chất ma túy (Hêrôin) được đựng trong 01 bì thư in sẵn, được niêm phong theo quy định có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ án Trần Xuân L có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện thu giữ ngày 14/4/2023 tại thôn Khởi Xá Ngoài, xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai”.
- Trả lại cho bị cáo Lộc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15s màu xanh
- đen bên trong có 01 sim Viettell (điện thoại cũ đã qua sử dụng) và số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) thu giữ của Trần Xuân L. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng trên được cơ quan điều tra chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự theo biên bản bàn giao ngày 23 tháng 5 năm 2023).
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Xuân L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND h. Bắc Hà; - CQCSĐT CA h. Bắc Hà; - CQTHAHS CA h. Bắc Hà; - Sở tư pháp T. Lào Cai; - BPHSNV CABắc Hà (để chuyển CA tỉnh); -P.THA& HTTPCA T. Lào Cai; - Trại tạm giam; - Bị cáo; - THA HS; - CCTHADS; - Lưu HS; TA; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Thọ |