vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kiến Tường, tỉnh Long An Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thanh P đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Trong trường hợp bị cáo Trương Thanh P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và 93 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thanh P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Thanh P đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 2 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 12/2023/HS-ST.
Ngày 20 - 6 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hiền.

Bà Nguyễn Thị Bạch Yến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trương Văn Công - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Trương Thanh P (tên gọi khác: Í), sinh ngày 03/01/2005, tại huyện M, tỉnh Long An; Nơi cư trú: Nhà số A, ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Thợ cửa nhôm; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn N và bà Trần Thị Bé T; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng N1 (đã tử vong).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu phố A, phường C, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).

Bà Lê Thị Thùy T1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Khu phố A, phường C, thị xã K, tỉnh Long An(có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Nhà số A, ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).

- Người làm chứng:

Ông Lê Trường S, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Khu phố E, phường B, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).

Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Khu phố A, phường C, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).

- Người giám hộ cho Lê Trường S: Ông Lê Hùng S1, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Khu phố E, phường B, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người giám hộ cho Huỳnh Văn T2: Bà Phạm Thị Triều T3, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu phố A, phường C, thị xã K, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSKT ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường để xét xử bị cáo Trương Thanh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Thanh P diễn biến như sau:

Trương Thanh P, sinh ngày: 03/01/2005, hộ khẩu thường trú: Ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An là người không có giấy phép lái xe theo quy định. Vào lúc 21 giờ 20 ngày 28/9/2022 sau khi đã uống nhiều rượu bia ở nhiều nơi, P điều khiển xe mô tô biển số 62U1-171.75 nhãn hiệu Honda Blade do Nguyễn Văn P1, sinh năm: 1983 chủ sở hữu (là cha của Nguyễn Hoàng N1) chở phía sau là Nguyễn Hoàng N1, sinh năm: 2005 ngụ Khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An để đi đám tang của bạn ở huyện T. P điều khiển xe đi đường T theo hướng từ Phường A, thị xã K đi xã B, huyện T. Khi chạy đến gần cầu K thuộc Khu phố E, Phường A, thị xã K, tỉnh Long do không làm chủ được tay lái và thiếu chú ý quan sát nên đã lao xuống kênh Huyện ủy. Hậu quả, Nguyễn Hoàng N1 tử vong, hỏng nhẹ 01 xe mô tô.

Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Blade biển số 62U1-171.75 và giấy chứng nhận đăng ký xe.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường được lập lúc 22 giờ 10 phút, ngày 28/9/2022 được thể hiện như sau:

Hiện trường vụ tai nạn: Nơi xảy ra tai nạn là tại cầu K đường T, Khu phố E, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An. Đoạn đường T nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng, bằng phẳng, mặt đường đá xanh, rộng 05m, mặt đường ướt do trời mưa, không có vạch kẻ đường, không có hệ thống đèn đường chiếu sáng, có biển báo đường hẹp hai bên. Kênh Huyện ủy có mực nước đo được rộng 14,8m. Cầu K là cầu bê tông, mặt cầu rộng 1,53m, lan can cầu bê tông rộng 0,12m, cao cách mặt cầu 0,53m, mặt cầu cao cách mặt nước kênh Huyện ủy đo được là 3,3m.

Điểm mốc làm chuẩn: cột điện số 474MH/37/19/24 ở ngoài phía bên phải đường T theo hướng đường Q đi huyện T. Mép đường làm chuẩn: Mép đường bên trái đường T theo hướng đường Q đi huyện T.

Các vị trí được đánh số thứ tự theo số tự nhiên từ số 1 đến số D, trong đó: Vị trí số 1: Dấu vết bánh xe hằn trên mặt đường T, liền nét kích thước (8,4 x 0,08)m. Điểm đầu cách điểm mốc làm chuẩn 3,9m; cách mép đường làm chuẩn dài 3,3m. Điểm cuối cách mép đường làm chuẩn 2,4m; Vị trí số 2: Dấu vết trượt bám dính cỏ liền nét có kích thước (0,5 x 0,03)m trên mặt lan can cầu phía Tây. Điểm đầu cách điểm cuối số 1 là 4,3m; Cách lan can cầu phía Đông là 1,38m. Điểm cuối cách lan can cầu phía Đông là 1,38m; Vị trí số 3: Xe mô tô biển số 62U1-171.75 ở dưới kênh Huyện ủy trong tình trạng ngập nước, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng Tây. Tại vị trí xe độ sâu mực nước đo được là 1,4m. Đuôi xe cách điểm cuối số 2 là 8,4m. Đầu xe cách trụ cầu bê tông phía Tây - B là 03m, cách trụ bê tông phía Tây - Nam là 1,3m; Vị trí số 4: Tử thi nạn nhân Nguyễn Hoàng N1, sinh năm: 2005 nằm ngửa trên bờ phía Bắc kênh Huyện ủy, hai tay hơi dang rộng, hai chân duỗi thẳng, đầu quay về hướng Bắc, hai chân quay về hướng N. Vị trí ở giữa hai gót chân cách đuôi xe số 3 là 11m, đỉnh đầu cách điểm mốc làm chuẩn là 13,2m, cách điểm cuối số 1 là 9,7m.

Tại biên bản khám phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 62U1-171.75 được lập lúc 23 giờ 40 phút ngày 28/9/2022 có các dấu vết sau:

Dấu vết trên phương tiện: Ốp cao su tay cầm phía bên trái rơi ra khởi vị trí ban đầu; Dấu vết trầy xước, nứt nhựa ở phía bên trái của nắp trước tay lái kích thước (0,1 x 0,009)m, cách mặt đất 0,91m; Dấu vết trầy xước nhựa kích thước (0,05 x 0,01)m trên nắp trước tay lái, cách đầu tay cầm lái phía bên trái 0,38m; Cụm đồng hồ đo tốc độ bị đọng nước ở bên trong; Cụm đèn tín hiệu, đèn chiếu sáng phía trước và phía sau bị đọng nước ở bên trong; Dấu vết đất còn ướt kích thước (0,035 x 0,03)m bám trên để chân phía trước bên phải; Dấu vết trầy xước cao su kích thước (0,07 x 0,01)m trên mặt ngoài phía bên trái của cản sau, cách mặt đất 0,78m; Bảng biển số xe bị đọng nước ở bên trong; Dấu vết rách má lốp bên trái của bánh xe trước kích thước (0,02 x 0,01)m tại vị trí phía trước số 3 của dòng chữ “38P”, cách vòi bơm 0,31m, cách số 7 của dòng chữ “70/90-17” là 0,035m.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe mô tô biển số 62U1-171.75 bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 195/TT ngày 31/10/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh L kết luận Nguyễn Hoàng N1 như sau: Dấu hiệu chính qua giám định: Tai nạn giao thông đường bộ; Chấn thương ngực; Tràn máu trung thất lượng nhiều, vở tim; Nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn Hoàng N1, sinh năm: 2005, hộ khẩu thường trú: Khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An, tử vong do: Tràn máu trung thất, vở tim.

Tại kết quả xét nghiệm sinh hoá ngày 29/9/2022 của Bệnh viện Đ, tỉnh Long An xác định: Định lượng cồn trong máu của Nguyễn Hoàng N1 là 2,4mg/100ml; của Trương Thanh P là 126,3mg/100ml.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trương Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa qua phần thẩm tra các chứng cứ Kiểm sát viên phát biểu quan điểm kết luận về vụ án và đề nghị xử lý vụ án như sau:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Thanh P đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Thanh P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 5 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân xã B, thị xã K để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Xe mô tô hiệu Honda, loại xe Blade biển số 62U1-171.75 và giấy chứng nhận đăng ký xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Văn P1 (là cha của N1) xong nên không xem xét.

Về phạt bổ sung: Khi phạm tội bị cáo P chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật hình sự nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo P.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Thanh P và gia đình với người đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận bồi thường các khoản chi phí mai tán, tổn thất tinh thần, làm mồ mã, sửa xe tổng cộng là 30.000.000 đồng, đã bồi thường xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo Trương Thanh P chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với ông Nguyễn Văn P1 chủ sở hữu xe mô tô biển số 62U1-171.75 để sử dụng chung trong gia đình, việc Nguyễn Hoàng N1 là con ruột lấy sử dụng ông P1 không biết và N1 giao cho bị cáo Trương Thanh P điều khiển ông P1 cũng không biết, do đó không đề cập xem xét trách nhiệm đối với ông P1.

Về lời trình bày của người đại diện hợp pháp của người bị hại đã được bồi thường các khoản chi phí mai tán, tổn thất tinh thần, làm mồ, sửa xe với số tiền tổng cộng là 30.000.000 đồng xong không yêu cầu gì thêm, còn về hành vi phạm tội của bị cáo P vì sự việc xảy ra ngoài ý muốn nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng treo để có điều kiện làm trả nợ; Về lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đưa tiền cho bị cáo bồi thường nhưng không yêu cầu bị cáo trả lại, còn hành vi phạm tội của bị cáo P xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để làm kiếm tiền trả nợ; Về lời trình bày của người làm chứng có cùng đi đám tang bạn ở T với bị cáo P và bị hại N1, có thấy bị cáo P chở bị hại N1 nhưng chạy được một đoạn thì tách ra mỗi xe đi một đường nên không chứng kiến bị cáo P gây tai nạn làm bị hại tử vong đến sáng hôm sau mới biết.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các P liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được tiến hành theo trình tự thủ tục, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Thanh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo để xét xử về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là đúng người, đúng tội không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo P tại phiên tòa, được đối chiếu với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, kết luận sinh hóa và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp.

Bị cáo Trương Thanh P không có giấy phép lái xe nhưng sau khi đã uống nhiều rượu bia ở nhiều nơi, điều khiển xe mô tô biển số 62U1-171.75 có dung tích xi lanh trên 50cm3 theo hướng từ Phường A, thị xã K đi xã B, huyện T chở phía sau là Nguyễn Hoàng N1 để đi đám tang của bạn ở huyện T. Khi chạy đến gần cầu K thuộc Khu phố E, Phường A, thị xã K, tỉnh Long do không làm chủ được tay lái và thiếu chú ý quan sát nên đã lao xuống kênh Huyện ủy. Hậu quả là Nguyễn Hoàng N1 tử vong và hỏng nhẹ 01 xe mô tô. Hành vi của bị cáo P đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008; khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019; điểm a khoản 2 Điều 59 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Như vậy, đã có đầy đủ căn cứ pháp lý để kết luận rằng hành vi phạm tội của bị cáo Trương Thanh P đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo P ra Tòa là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của ông N1, mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông. Hành vi phạm tội của bị cáo P cần phải xử lý bằng Luật hình sự để có một hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mà có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bồi thường thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại; Khi tai nại xảy ra bản thân bị cáo cố gắn đưa nạn nhân lên cạn và chạy tìm người giúp đỡ; Khi phạm tội bị cáo chưa thành niên. Đây là những tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặc khác, bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, bị cáo Trương Thanh P có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo với thời gian dài thử thách, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho người đại diện hợp pháp của bị hại xong nên không xem xét.

Về phạt bổ sung: Khi phạm tội bị cáo P chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật hình sự nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo P.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trương Thanh P và gia đình với người đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận bồi thường các khoản chi phí mai tán, tổn thất tinh thần, làm mồ mã, sửa xe tổng cộng là 30.000.000 đồng, đã bồi thường xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Theo quy định buộc bị cáo P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Đối với ông Nguyễn Văn P1 chủ sở hữu xe mô tô biển số 62U1-171.75 để sử dụng chung trong gia đình, việc Nguyễn Hoàng n là con ruột lấy sử dụng ông P1 không biết và N1 giao cho bị cáo Trương Thanh P điều khiển ông P1 cũng không biết nên không đề cập xem xét trách nhiệm đối với ông P1 là phù hợp.

Từ những nhận xét nêu trên xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ đúng pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thanh P đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Diều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xử phạt bị cáo Trương Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/6/2023). Giao bị cáo Trương Thanh P cho Ủy ban nhân dân xã B, thị xã K, tỉnh Long An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Trương Thanh P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và 93 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo Trương Thanh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ