- Tranh chấp gì? án hình sự — "Q "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày: 09-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thanh Hảo;
- Ông Lê Châu Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Oanh Đa Ra, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Khang, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01
năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 27
tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Phú Q, sinh ngày 23/8/1986 tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư
trú: tổ 04, ấp B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình
độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật giáo Hòa
Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn U, sinh năm 1968 và bà Nguyễn
Thị Kim C, sinh năm 1969; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ
nhất.
Nhân thân: Ngày 12/8/2008, Tòa án nhân dân huyện C kết án 01 năm tù,
về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 16/4/2009 chấp hành xong, xóa án tích.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 04/10/2022 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Công B, sinh năm 1987; nơi cư trú: tổ 08, khóm B, thị trấn
V, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1980; nơi cư trú: số 14, đường L, khóm
C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn Lung, sinh năm 1959; nơi cư trú: số 14, tổ 29, khóm
C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
Người làm chứng: Ông Phạm Văn Điền E, sinh năm 1982. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 10/6/2022, lực lượng phối hợp Tổ tuần tra Cảnh sát
giao thông - Công an tỉnh An Giang và Công an phường N, thành phố C , trên đường tuần tra, đến khu vực tổ 15, khóm V, phường N, thành phố C, phát hiện Huỳnh Phú Q điều khiển xe mô tô biển số 67H1 - 9544, chở Nguyễn Công B và người nam tên H (không rõ lai lịch), nên yêu cầu dừng xe, kiểm tra, B và H liền xuống xe bỏ chạy, còn lại Q. Thấy Q có biểu hiện nghi vấn, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía sau bên trái Q đang mặc 01 túi nhựa trong suốt hàn kín, chứa chất bột màu trắng. Q khai, ma túy, loại Heroine, Q mua của người nam (không rõ lai lịch) tại khu vực chợ C, ấp V 1, xã V, thành phố C, cất giấu để sử dụng, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa chất bột màu
trắng; 01 xe mô tô, màu xanh, nhãn hiệu Warm, biển số 67H1 – 9544 (đã bàn giao Cơ quan Thi hành án Dân sự).
Căn cứ Kết luận giám định số 93/KL-KTHS (MT-GT) ngày 20/6/2022 của
Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận: Mẫu gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1827 gam.
Ngày 08/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố,
tạm giam Huỳnh Phú Q để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSCĐ-HS ngày 06/01/2023 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố C đã truy tố bị cáo Huỳnh Phú Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng
truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T cung cấp lời
khai như đã khai trong giai đoạn điều tra
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo
điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
Ma túy có tác hại rất lớn đối với sức khỏe, tinh thần của người sử dụng.
Pháp luật cấm việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép ma túy
dưới mọi hình thức. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại
địa phương, là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và tội phạm. Cho nên, đề
nghị xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành
khẩn khai báo; bị cáo thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật có phần
hạn chế. Cho nên, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản
1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Phú Q từ 01
(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn,
nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm
2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với số ma túy còn lại sau giám định đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô, màu xanh, nhãn hiệu Warm, biển số 67H1 – 9544, do
Nguyễn Công B mua lại từ người khác, chưa sang tên chủ sở hữu, sử dụng sinh
hoạt gia đình; B cho Q đi nhờ xe, nay có yêu cầu được nhận lại xe mô tô; do đó
đề nghị Hội đồng xét xử giao trả lại xe mô tô biển số 67H1-9544 cho Nguyễn
Công B.
Đối với người nam tên H (không rõ lai lịch) đi mua ma túy cùng Huỳnh
Phú Q; người nam (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Q, Cơ quan điều tra tiếp
tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Công B cho Huỳnh Phú Q đi nhờ xe, mượn xe, không
biết Q đi mua ma túy; tuy không xử lý nhưng cần giáo dục công khai tại phiên
tòa.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời
nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng
của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân
dân thành phố C, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm
chứng vắng mặt, nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Huỳnh Phú Q khai nhận, do
nghiện ma tuý, vào khoảng 06 giờ ngày 10/6/2022, Quý gặp Nguyễn Công B điều khiển xe mô tô biển số 67H1 – 9544 nên nhờ B chở đến khu vực Hầm Chì, phường N, thành phố C tìm mua ma túy sử dụng nhưng không mua được. Lúc này, Q gặp người nam tên H (không rõ lai lịch), biết chỗ bán ma túy. Q kêu H lên xe, Q chở B, H cùng đi, khi đến khu vực chợ C, xã V, thành phố C, Bằng đứng chờ, Q chở H đến gặp người nam (không rõ lai lịch), mua 300.000 đồng ma túy, loại Heroine. Q cất giấu ma túy, trên đường chở B, H về, bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang như nội dung vụ án. Do Q không nói, B không biết Q đi mua ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo
trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa như: Kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ liên quan khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1827 gam.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được
việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo Huỳnh Phú Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo
ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, ma tuý là chất gây nghiện, là
nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.
Bị cáo là người thành niên, đang ở tuổi lao động nhưng lại lao vào con
đường nghiện ngập. Để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm
tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác
đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực
hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội
một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng
ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về nhân thân: Ngày 12/8/2008, Tòa án nhân dân huyện C kết án 01 năm
tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 16/4/2009 chấp hành xong, xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng
nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thuộc thành phần lao động, hiểu biết pháp luật
có phần hạn chế; trong quá trình điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo
đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo,
không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo
còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành. Vì vậy, tịch thu tiêu hủy lượng ma
túy này theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a
khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô, màu xanh, nhãn hiệu Warm, biển số 67H1 – 9544,
trong quá trình điều tra, Nguyễn Công B khai, xe mua lại từ người khác, chưa
sang tên chủ sở hữu, sử dụng sinh hoạt gia đình; B cho Q đi nhờ xe không biết là
Q đi mua ma túy, không sử dụng ma túy cùng Q, nay có yêu cầu được nhận lại
xe mô tô, nên giao trả cho Nguyễn Công B.
Các vấn đề khác:
Đối với người nam tên H (không rõ lai lịch) đi mua ma túy cùng Huỳnh
Phú Q; người nam (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Q, Cơ quan điều tra tiếp
tục xác minh, làm rõ xử lý sau. Đối với Nguyễn Công B cho Huỳnh Phú Q đi
nhờ xe, mượn xe, không biết Q đi mua ma túy; tuy không xử lý nhưng cần giáo
dục công khai tại phiên tòa.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”;
Xử phạt: Huỳnh Phú Q 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam,
ngày 04/10/2022 (ngày bốn, tháng mười, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ
luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (ghi vụ số:
93/KLGT-PC09(MT) ngày 20/6/2022) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Văn Â.
Giao trả cho Nguyễn Công B: 01 (một) mô tô màu xanh, nhãn hiệu Warm,
biển số 67H1 – 9544, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 02 năm 2023 giữa Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Huỳnh Phú Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Huỳnh Phú Q, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan
trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. C (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS TP. C (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lâm Ngọc Phượng |