vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật hình sự; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Viết H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/3/2023). Giao bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Viết H - "vi phạm quy định về khai thác tài nguyên" - phạm tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 227 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lưu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu, bà Hoàng Thị Thoan

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Bá Tuấn Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại phòng xét xử án hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2023/QĐXXST-HS ngày 15/02/2023 đối với bị cáo:

Trần Viết H, sinh ngày: 16/02/1980 tại Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Trần Văn C, sinh năm 1955 và bà Trần Thị B, sinh năm 1956; có vợ Lương Thị L, sinh năm 1990; Có 02 người con: lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: không; tiền sự: Ngày 25/11/2021, bị Công an huyện Quảng Ninh ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi khai thác khoáng sản trái phép. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/11/2022 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trương Thanh Th, sinh năm 1979; Địa chỉ: thôn X 1, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Anh Trương Minh T, sinh năm 1974; Địa chỉ: thôn X 1, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 06/9/2022, Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình phối hợp với Công an xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh tiến hành tuần tra, kiểm soát hoạt động khai thác khoáng sản trên sông Long Đại thuộc địa phận thôn X 1, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, phát hiện Trần Viết H và Trương Thanh Th sử dụng thuyền gỗ vỏ nhôm gắn động cơ và máy hút đang khai thác cát lòng sông, khối lượng cát đã khai thác trên khoang thuyền là 08m3. Quá trình kiểm tra, Trần Viết H và Trương Thanh Th không xuất trình được giấy phép do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp về việc khai thác khoáng sản tại khu vực trên. Công an huyện Quảng Ninh đã tiến hành lập biên bản và tiến hành tạm giữ 01 thuyền gỗ vỏ nhôm, 01 máy hút cát và 08m3 cát lòng sông để xử lý theo quy định.

Tang vật thu giữ: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 thuyền gỗ vỏ nhôm, 01 máy hút cát và 08m3 khoáng sản (cát lòng sông), được chuyển chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình để quản lý.

Cơ quan Điều tra huyện Quảng Ninh đã tiến hành đo đạc xác định khối lượng cát khái thác trái phép; trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản vi phạm. Kết quả như sau: khối lượng cát đã khai thác trên khoang thuyền là 08 m3 cát. Ngày 03/11/2022, Trung tâm phân tích thí nghiệm Địa Chất có Kết luận giám định GĐ/47-2022, kết luận: Mẫu vật giám định lấy từ số cát lòng sông do Trần Viết H khai thác là cát hạt mịn và là khoáng sản cho vật liệu xây dựng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 25/TB-KLĐG, ngày 03/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 08m3 Cát lòng sông trên có tổng trị giá 720.000 đồng (Bảy trăm hai mươi ngàn đồng chẵn).

Tại bản cáo trạng số 08/CTr-VKSQB-P3 ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Viết H về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 227 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Viết H phạm tội "Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên" theo nội dung bản cáo trạng, đã xem xét đánh giá vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 227, các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) đến 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu 01 thuyền gỗ vỏ nhôm, 01 máy hút cát và 08m3 khoáng sản (cát lòng sông).

Bị cáo Trần Viết H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo vì vợ đã bỏ đi, không ai nuôi con, gia đình bị cáo khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Viết H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thời gian, địa điểm phạm tội, do đó có đủ căn cứ xác định: Ngày 06/9/2022, Trần Viết H dùng thuyền và máy hút khai thác cát lòng sông trái phép với khối lượng 08m3, có trị giá 720.000 đồng. Trung tâm phân tích thí nghiệm Địa Chất có Kết luận giám định số GĐ/47-2022, kết luận: Mẫu vật giám định lấy từ số cát lòng sông do Trần Viết H khai thác là cát hạt mịn và là khoáng sản cho vật liệu xây dựng.

Mặc dù giá trị khoáng sản mà Trần Viết H khai thác trái phép là 720.000 đồng nhưng bản thân bị cáo Trần Viết H đã bị Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 25/11/2021 số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Vi phạm khai thác khoáng sản” mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên đến ngày 06/9/2022, Trần Viết H tiếp tục thực hiện khai thác 08m3 khoáng sản trái phép. Do đó, có căn cứ để khẳng định bị cáo Trần Viết H đã phạm vào tội“Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật hình sự, Cáo trạng của Viên kiểm sát và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đung người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: Hành vi của Trần Viết H đã trực tiếp xâm phạm đến tài nguyên do Nhà nước quản lý, tuy số lượng cát mà bị cáo khai thác không nhiều, có giá trị không lớn nhưng cần xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường ít nghiêm trọng, bị cáo có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Viết H phạm tội nhưng gây thiệt hại với số tiền 720.000 đồng là không lớn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiện nay hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, phải nuôi 02 con nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, để bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hinh sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Đối với một số tài sản là các vật chứng chuyển theo vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

- 01 (một) thuyền gỗ vỏ nhôm và 01 (một) máy hút cát: Quá trình điều tra xác định thuyền gỗ vỏ nhôm và máy hút cát là của Trương Minh T, cho Trần Viết H mượn và Toàn có biết Hoàn và Thủy dùng để khai thác cát trái phép mà không có giấy phép để khai thác tài nguyên khoáng sản, bản thân Trương Minh T cũng không có giấy phép để khai thác tài nguyên khoáng sản và biết việc Hoàn và Thủy dùng để khai thác cát trái phép nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 08 (tám) m3 khoáng sản (cát lòng sông) hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Về án phí: Bị cáo Trần Viết H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật hình sự; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Viết H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/3/2023).

Giao bị cáo Trần Viết H cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong thời gian thử thách của án treo, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Viết H 60 triệu đồng để sung công quỹ nhà Nước.

4. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước 01 (một) thuyền gỗ vỏ nhôm và 01 (một) máy hút cát của ông Trương Minh T.

- Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước 08 (tám) m3 khoáng sản (cát lòng sông).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Trần Viết H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Viết H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ