- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS -ST Ngày 09 tháng 02 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển
Ông Phùng Văn Thông
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2022/TLST - HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê D, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2003. Tại: Xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Thôn Vi, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T, sinh năm 1977 và bà Phan Thị N, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người bị hại: Bà Hạ Thị H, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn 2, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Hạ Thị H: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn 2, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt).
Chị Phan Thị Thúy H, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, Lê D sinh năm 2003 trú tại thôn V, xã V, huyện Vĩnh Tường là người không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia và chất kích thích, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98 nhãn hiệu HONDA, loại xe Blade, dung tích xi lanh 109cm3 đi từ nhà ở của mình đến nhà chị Phan Thị Thúy H, sinh năm 2004, ở thôn C, xã N, huyện V để đón chị H đi làm. Sau khi đón được chị H, D điều khiển xe mô tô nêu trên chở chị H đi từ nhà chị H đến quán TICAGO ở thị trấn T, huyện T để làm việc. Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô chở chị H đi theo đường trục Trung tâm huyện Vĩnh Tường hướng từ xã V đi thị trấn T. Khi đi đến ngã 5 giao nhau cùng mức giữa đường Trục trung tâm huyện V hướng xã Vi đi xã Đ với các tuyến đường đi thị trấn T, đi xã B và đi thôn 2, xã V là khu vực công trường đang thi công có vòng xuyến nhưng không có biển báo hiệu đi theo vòng xuyến thuộc thôn 2, xã V, huyện V, thì D điều khiển xe đi cắt bên trái vòng xuyến theo hướng từ xã V đi thị trấn T, sát với lối đi thôn 2, xã V. Lúc này, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ tại nơi đường giao nhau cùng mức và nơi công trường đang thi công để đảm bảo an toàn, nên phần đầu xe mô tô do D điều khiển đã đâm va vào bên trái xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033 do bà Hạ Thị H, sinh năm 1970 trú tại thôn 2, xã V, huyện V là người không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia, chất kích thích, điều khiển đi từ phía đường đi thôn 2, xã V ra khu vực đường giao nhau nhưng không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường chính từ bất kỳ hướng nào đến. Sau khi đâm va, D, bà H, chị H, đều bị ngã, xe mô tô do bà H và D điều khiển đều bị đổ xuống đường.
Hậu quả, bà H bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường; Bệnh viện hữu nghị Việt Đức và bệnh viện Quân y 109, đến ngày 14/7/2022 thì ra viện về nhà tự điều trị; chị H bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường, Bệnh viện hữu nghị Việt Đức đến ngày 13/6/2022 thì ra viện; D bị thương được đưa đến khám và sơ cứu tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường nhưng do thương tích nhẹ nên không phải điều trị tại Cơ sở y tế nào; Các phương tiện liên quan bị hư hỏng sau tai nạn.
Sau khi nhận được tin báo nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông thuộc khu vực vòng xuyến ngã năm giao nhau giữa các đường đi trục trung tâm huyện Vĩnh Tường hướng đi xã Đ, thị trấn T, xã B, xã V thuộc địa phận thôn 2, xã V, huyện V. Vị trí xảy ra tai nạn thuộc đường liên xã từ xã V đi thị trấn T rộng 18m được đổ nhựa áp phan tương đối bằng phẳng, không có hệ thống vạch sơn kẻ đường. Tiếp giáp với mép đường bên phải theo hướng từ xã V đi thị trấn T là vòng xuyến giữa ngã năm. Tiếp giáp với mép đường bên trái là lối mở đi vào thôn 2, xã V rộng 6,50m. Phía trước hiện trường nơi xảy ra tai nạn theo hướng từ xã V đi thị trấn T phát hiện thấy có biển báo hiệu “Phía trước AHEAD 50m Công trường WORKS” nằm tại mép đường bên phải có nền màu xanh, chữ màu trắng. Ngoài ra không phát hiện hệ thống biển báo hiệu đường bộ nào khác. Quá trình khám nghiệm hiện trường tạm giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98, 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033, đám mảnh nhựa vỡ, gương vỡ, dép, khẩu trang, một số chất màu nâu đỏ, tổ chức mô cơ và tóc. Toàn bộ đồ vật, phương tiện, mẫu thu nêu trên được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033, nhãn hiệu FANTOM, đã qua sử dụng, để lại các dấu vết sau khi va chạm cụ thể như sau: Gương chiếu hậu bên phải bị xoay lệch về phía trước bên trái xe. Cụm đèn chiếu sáng phía trước đầu xe bị vỡ bung dời khỏi xe, phần ốp bảo vệ cụm đèn xi nhan bên phải phía trước bị vỡ, bung dời khỏi xe. Mặt ngoài cánh yếm bên phải có một số vết trượt xước nhựa, phần máy gần cánh yếm bị vỡ. Phần đầu bu di bị gãy. Phần phía trong của dây động cơ bị gãy dời, hệ thống dẫn tại bộ phận động cơ này bị vỡ bung dời khỏi xe. Mặt phía trong cánh yếm bên trái có vết trượt xước nhựa bám dính chất màu đen. Cung chắn bùn phía trước bánh trước bị gãy tại vị trí chốt gắn, phần mặt bên phải phía sau bánh trước có vết trượt xước nhựa. Mặt má lốp bên trái bánh trước có vết trượt mài mòn cao su Đầu khung xe bị đẩy lệch sang bên trái khỏi vị trí ban đầu 10º. Ốp nhựa sườn phải xe (bảo vệ ắc quy và hệ thống điện) bị gãy bung dời khỏi xe. Đầu tay nắm lái bên trái có gắn ốp nhựa bảo vệ bằng kim loại, phần đầu ốp bảo vệ này có vết lõm, mài mòn kim loại. Đầu bàn để chân người lái bên trái bị rách mài mòn cao su trượt xước kim loại, bộ phận lọc gió của máy bị vỡ dời khỏi xe.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98, nhãn hiệu Honda, đã qua sử dụng, để lại các dấu vết sau khi va chạm cụ thể như sau: Gương chiếu hậu hai bên bị vỡ, bung dời khỏi xe. Cụm đèn chiếu sáng phía trước đầu xe bị gãy lẫy bung dời, phần ốp nhựa phía trước đèn bị trầy xước, phần ốp nhựa phía trên đầu xe bị gãy vỡ bung dời khỏi vị trí ban đầu. Đầu tay nắm lái bên phải bị chầy xước kim loại nham nhở. Mặt nạ phía trước đầu xe bị gãy vỡ bung dời khỏi xe. Cánh yếm bên trái bị gãy vỡ bung dời khỏi xe. Cung chắn bùn phía sau bánh trước bị nứt vỡ dài 5cm, Mai ơ bên trái trục bánh trước bị vỡ kim loại, trục càng bên trái bánh trước bị đẩy lệch từ trước về sau, lệch khỏi vị trí ban đầu 5º, mặt phía trước cuối càng xe này có vết trượt mài mòn kim loại hướng từ trước về sau. Má lốp bên trái bánh trước có vết trượt bám dính chất màu tím hướng thuận chiều kim đồng hồ. Đầu bàn để chân người lái bên phải bị rách mài mòn cao su hở phần kim loại bên trong. Đầu cột kim loại có vết trượt mài mòn kim loại bám dính chất bột màu trắng. Đầu bàn để chân người ngồi sau bên phải có vết trượt xước kim loại bám dính chất bột màu trắng hướng từ dưới lên trên, từ trước về sau. Ốp kim loại bảo vệ ống xả có vết trượt xước kim loại hướng từ trước về sau. Cánh yếm bên phải bị nứt vỡ nhựa. Thanh nâng dắt xe bị cong vênh theo chiều từ trên xuống dưới gắn chặt vào ốp bảo vệ đèn chiều hậu phía sau. Bàn để chân người lái bên trái có phần ốp cao su bị xoay lệch từ dưới lên trên, từ trước về sau, phần đầu bị rách cao su để hở phần kim loại bên trong. Tại mặt lăn lốp phía sau bên trái có vết trượt xước cao su theo chiều thuận chiều kim đồng hồ.
Quá trình xác minh thương tích của những người liên quan xác định:
1. Đối với thương tích của bà Hạ Thị H:
+ Tại biên bản xác minh thương tích ngày 09/6/2022, Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường cung cấp thương tích của bà H cụ thể như sau: Vết thương vùng đỉnh phải chảy máu, mắt phải sưng nề, chảy máu tai trái, sưng nề nhiều vùng chẩm, đồng từ hai bên 3mm, phản xạ ánh sáng kém. Xuất huyết dưới nhện. Chuẩn đoán: Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.
+ Tại bệnh án số 028879 của Bệnh viện Việt Đức xác định thương tích của bà H cụ thể như sau: 01 vết thương thái dương phải kích thước (3x2)cm, bẩn nham nhở. Kết quả chụp CLVT sọ não ngày 09/6/2022: Hình ảnh chảy máu dưới nhện rải rác các rãnh cuộn não hai bên bán cầu. Chảy máu lều tiểu não hai bên và liềm đại não. Hình ảnh vài ổ tụ máu – đụng dập nhu mô não trán bên phải, thái dương trái và đỉnh phải, ổ lớn kích thước (18x20)mm, xung quanh có viền phù não. Hình ảnh tụ máu dưới màng cứng thái dương bên trái dày 7mm. Đường giữa cân đối không có dấu vết đè đẩy. Tụ dịch xoang hàm, xoang sàng và xoang bướm hai bên. Tụ dịch xoang bào chũm bên trái. Gãy cung tiếp gò má phải, thành ngoài xoang hàm phải và gãy thành ngoài ổ mắt bên phải. Kết quả Xquang: Gãy 1/3 thân xương đòn trái. Kết quả chụp CLVT ngày 12/6/2022: Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh trái kích thước xấp xỉ (27 x10)mm. Tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương trán trái dày 4mm. Tụ máu các rạnh cuộn não bán cầu hai bên, rãnh Sylvius hai bên, dọc liềm đại não và lều tiểu não. Ổ đụng dập, tụ máu trong nhu mô thùy trán hai bên, thái dương đỉnh trái, ổ lớn nhất kích thước xấp xỉ (20 x 14)mm, có phù não xung quanh. Đường giữa lệch 4mm sang phải. Hệ thống não thất mất cân đối, không giãn. Dịch não tủy đồng nhất. Gây ít di lệch xương cánh mũi phải, lan vào sàn, thành ngoài ổ mắt, lan vào thành ngoài xoang hàm phải gây tụ máu trong xoang, lan vào cánh lớn, mảnh chân bướm ngoài xương bướm, cung tiếp gò má phải, lan vào xương đá phải gây tụ máu trong thông bào chùm; đường gãy vào khớp trán thái dương lan vào ổ trần mắt phải. Gãy thành trước và ngoài xoang hàm trái lan vào thân xương bướm, xương đá trái gây tụ máu trong xoang bướm, xoang hàm trái và thông bào chũm. Sưng nề phần mềm vùng đỉnh phải, thái dương trái.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 289 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định xác định pháp y về thương tích của bà Hạ Thị H. Ngày 10/8/2022, Cơ quan điều tra nhận được Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 255/TgT ngày 05/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:
* Dấu hiệu chính qua giám định:
- Đụng dập nhu mô thái dương trái xếp: 24%.
- Xuất huyết dưới nhện xếp: 09%.
- Gãy cung tiếp gò má phải xếp: 08%.
- Vỡ thành ngoài ổ mắt phải xếp: 06%.
- Gãy xương đòn trái xếp: 08%.
- Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh trái điều trị nội kH xếp: 05%.
- Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương trán trái điều trị nội kH xếp: 08%.
- Gãy xương cánh mũi phải xếp: 07%.
- Vỡ xương đá xếp: 16%.
- Vỡ xương cánh bướm phải xếp: 16%.
- Gãy thành trước ngoài xoang hàm trái xếp: 07%.
- Đại tiểu tiện không tự chủ thường xuyên xếp: 35%.
- Sẹo vết thương phần mềm phía ngoài đuôi mắt phải kích thước trung bình xếp: 06%.
- Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích đã mô tả trên là do vật tày gây nên.
- Hiện tại nạn nhân đang điều trị các thương tích, khi nào điều trị ổn định giám định bổ sung.
* Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên ở thời điểm hiện tại là: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, Pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 82% (Tám mươi hai phần trăm). Theo phương pháp cộng tại thông tư.
Ngày 10/8/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung pháp y về thương tích số 32 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định bổ sung thương tích cho bà H nhưng đại diện gia đình bà H đã có đơn xin từ chối giám định bổ sung thương tích nên không giám định bổ sung thương tích cho bà H được.
2. Đối với thương tích của chị Phan Thị Thúy H:
+ Tại biên bản xác minh thương tích ngày 09/6/2022, Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường cung cấp thương tích của chị H cụ thể như sau: Vùng đỉnh trái có vết thương xưng nề bầm tím. Vùng mặt môi trên, môi dưới có nhiều vết thương rách da phức tạp, bờ nham nhở, chảy máu. Tay chân, hai bên ngực có nhiều vết sát da dỉ máu. Kết quả chụp CTScaner sọ não: gãy xương cánh mũi hai bên.
+ Tại bệnh án số 29056 của Bệnh viện hữu nghị Việt Đức xác định thương tích của chị H cụ thể như sau: 01 vết thương nhân trung kích thước 2x0,5cm bờ nham nhở; 01 vết thương môi dưới kích thước 3x0,5cm bờ nham nhở. CLVT sọ não: Xuất huyết dưới nhện. CLVT hàm mặt: Gãy xương cánh mũi hai bên; gãy xương hàm trên.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 291 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định pháp y về thương tích cho chị Phan Thị Thúy H. Ngày 02/7/2022, chị H có đơn xin từ chối giám định pháp y về thương tích và xin tự khắc phục hậu quả. Ngày 06/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra quyết định dẫn giải số 41, dẫn giải chị H đến Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc để giám định pháp y về thương tích làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, khi Cơ quan điều tra thi hành quyết định dẫn giải thì chị H kiên quyết từ chối không đi giám định thương tích nên Cơ quan điều tra không xác định được tổn hại sức khỏe của chị H.
3. Đối với thương tích của Lê D:
+ Tại biên bản xác minh thương tích ngày 09/6/2022, Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường cung cấp thương tích của Lê D cụ thể như sau: Có nhiều vết thương xát da dỉ máu ở cẳng tay hai bên, vùng mặt. Tại vùng cổ tay trái sưng nề nhẹ đau nhiều, hạn chế cận động. Kết quả XQuang: hình ảnh gãy đầu dưới xương quay trái.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định trưng cầu giám định số 290 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định pháp y về thương tích cho Lê D. Ngày 15/6/2022, Lê D có đơn xin từ chối giám định pháp y về thương tích và xin tự khắc phục hậu quả. Ngày 16/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra quyết định dẫn giải số 37, dẫn giải Lê D đến Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc để giám định pháp y về thương tích làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, khi Cơ quan điều tra thi hành quyết định dẫn giải thì D kiên quyết từ chối không đi giám định thương tích nên Cơ quan điều tra không xác định được tổn hại sức khỏe của D.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan điều tra phối hợp cùng Bệnh viện hữu nghị Việt Đức tiến hành thu mẫu máu của bà Hạ Thị H. Ngày 10/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định trưng cầu giám định số 292, 298 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy, nồng độ cồn trong mẫu máu của Hạ Thị H.
Tại bản kết luận giám định số 1739 ngày 16/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Không phát hiện thấy có cồn (Ethanol) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được xác định là mẫu máu thu của Hạ Thị H- SN: 1970 trú tại thôn 2- xã V- huyện Vĩnh Tường gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1798 ngày 18/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Không phát hiện thành phần ma túy (Morphine, MDMA, Methamphetamine, Delta-9-tetrahydrocanabiol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được xác định là mẫu máu thu của Hạ Thị H gửi giám định.
Ngày 09/6/2022, Công an huyện Vĩnh Tường đã sử dụng máy đo nồng độ cồn nhãn hiệu ALCOSENSE- PRODIGV II, số ID: 836801, hiệu chỉnh gần nhất ngày 05/01/2022 để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Lê D. Kết quả trong hơi thở của D không có cồn.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường phối hợp cùng Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường tiến hành thu mẫu máu trong cơ thể của Lê D. Ngày 10/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định trưng cầu giám định số 293 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy trong mẫu máu của D.
Tại Bản kết luận số 1799/KL-KTHS ngày 18/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Không phát hiện thành phần ma túy (Morphine, MDMA, Methamphetamine, Delta-9-tetrahydrocanabiol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được xác định là mẫu máu thu của Lê D gửi giám định.
Ngày 14/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Tường ra các yêu cầu định giá tài sản số 299, 300 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường định giá xác định thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98 và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033 bị hư hỏng sau khi tai nạn xảy ra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTTHS, ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 88L1-456.98 là 1.155.000đ (Một triệu một trăm năm mươi năm nghìn đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTTHS, ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vĩnh Tường, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033 là 1.010.000đ (Một triệu không trăm mười nghìn đồng).
Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung các bản kết luận giám định, định giá tài sản nêu trên cho Lê D, chị Phan Thị Thúy H và đại diện gia đình bà Hạ Thị H biết. Sau khi được thông báo thì D, chị H và đại diện gia đình bà H đều đồng ý, không ai có ý kiến, thắc mắc gì.
Tại Cơ quan điều tra, Lê D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 100/CT-VKSVT ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lê D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Lê D 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 60 triệu đồng, người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Và yêu cầu xử lý vật chứng của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Tường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Tại phiên tòa Lê D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như biên bản hỏi cung, lời khai của bị cáo, bản tự kiểm điểm, lời khai của người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của người bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/6/2022, Lê D là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia và chất kích thích điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88L1-456.98, dung tích xi lanh 109cm3 chở chị Phan Thị Thúy H, sinh năm 2004, trú tại xã N, huyện V tham gia giao thông trên đường liên xã theo hướng từ xã V đi thị trấn T, huyện V đến khu vực ngã 5 giao nhau cùng mức giữa đường Trục trung tâm huyện Vĩnh Tường hướng xã V đi xã Đ với các tuyến đường đi thị trấn T, đi xã B và đi thôn 2, xã V là khu vực công trường đang thi công, có vòng xuyến nhưng không có biển báo hiệu đi theo vòng xuyến, thuộc thôn 2, xã V, huyện Vĩnh Tường, thì D điều khiển xe đi cắt bên trái vòng xuyến theo hướng từ xã V đi thị trấn T, sát với lối đi thôn 2, xã V. Lúc này, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ tại nơi đường giao nhau cùng mức và nơi công trường đang thi công để đảm bảo an toàn nên phần đầu xe mô tô do D điều khiển đã đâm va vào bên trái xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033 do bà Hạ Thị H, sinh năm 1970 trú tại thôn 2, xã V, huyện V là người không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, không sử dụng rượu bia, chất kích thích, điều khiển đi từ phía đường đi thôn 2, xã V ra khu vực đường giao nhau nhưng không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi trên đường chính từ bất kỳ hướng nào đến, dẫn đến gây tai nạn giao thông làm bà H bị thương và bị tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại là 82% và làm thiệt hại tài sản của người khác trị giá 2.165.000đ.
Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ tại nơi đường giao nhau cùng mức và nơi công trường đang thi công để đảm bảo an toàn, gây tai nạn giao thông, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng làm bà H bị tổn thương cơ thể 82% của Lê D đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 và khoản 3, khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định: “1. Người lái xe…phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường …”
Khoản 3 và khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: ……..
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức....;
5. Qua …khu vực đang thi công trên đường bộ;”
Hành vi như đã nêu trên của Lê D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình. Điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;”
. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã nhiều năm nay tai nạn giao thông là một vấn nạn các cấp các ngành và toàn thể nhân dân đang cố gắng chấn chỉnh tốt luật giao thông, tuy nhiên Lê D mặc dù chưa được cấp giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô đi trên đường, vi phạm Luật giao thông đường bộ gây tổn hại đến sức khỏe và tài sản công dân được pháp luật bảo hộ, gây tâm lý lo sợ cho nhân dân khi tham gia giao thông nên cần xử phạt D một mức án nghiêm khắc với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền chi phí viện phí và tổn hại sức khỏe cho bà H số tiền 60.000.000đồng, đại diện gia đình bà H đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ngoài ra trong vụ án này, người bị hại cũng có lỗi một phần vì lý do bà H khi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Bà H tham gia giao thông đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ 2008 và cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử cũng xem xét một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định nên chỉ cần xử phạt D mức án tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện tính kHn hồng của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo D không hành nghề lái xe, việc điều khiển xe mô tô chỉ là phương tiện đi lại nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lê D và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền chi phí viện phí và tổn hại sức khỏe cho bà H số tiền 60.000.000đ. Đại diện gia đình bà H, anh Đỗ Văn Tuấn (con trai bà H) đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu D phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hư hỏng của hai chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98 và 88H9- 5033 thì bà Mai và đại diên gia đình bà H đều xin tự nguyện khắc phục hậu quả và không yêu cầu D phải bồi thường gì. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
. Các vấn đề khác: Đối với bà Hạ Thị H là người không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Ngày 09/6/2022, bà H đã có hành vi điều khiển xe mô tô BKS 88H9-5033 dung tích xi lanh 97cm3 của bà H tham gia giao thông đi từ đường đi thôn 2, xã V là đường nhánh ra khu vực ngã 5 (có vòng xuyến nhưng không có biển báo hiệu đi theo vòng xuyến) giao cắt với các tuyến đường xã V đi xã Đ, đi xã B và đi thị trấn T, nhưng không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe mô tô do D điều khiển trên đường liên xã V đi thị trấn T theo hướng từ xã V đi đến nên đã gây tai nạn giao thông làm D và chị H bị thương và làm thiệt hại tài sản của người khác có giá trị 1.155.000đ (Một triệu một trăm năm mươi năm nghìn đồng). Hành vi của bà H đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ 2008 cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông. Tuy nhiên, do D và chị H đã từ chối giám định thương tích nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định tổn hại sức khỏe của D và chị H. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260- Bộ luật Hình là phù hợp.
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968, trú tại xã N, huyện V là mẹ đẻ của chị Phan Thị Thúy H (toàn bộ giấy tờ xe mang tên bà Mai). Từ đầu tháng 6/2022 bà M đi làm thuê ở thành phố Hà Nội nên đã để xe và chìa khóa xe mô tô trên ở nhà. Đến tối ngày 08/6/2022, chị H tự ý lấy và điều khiển xe mô tô của bà Mai đi đến nhà D chơi, sau đó do trời tối nên chị H đã để lại chiếc xe mô tô trên ở nhà D rồi bắt taxi đi về nhà. Sáng ngày 09/6/2022, D tự ý điều khiển xe mô tô nêu trên đến đón chị H đi làm, rồi gây tai nạn giao thông làm bà H bị thương. Bản thân chị H biết D là người đã đủ 18 tuổi nhưng không biết D chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị H và bà M về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 264 BLHS là phù hợp.
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này do anh Ngô Cường H, sinh năm 1981, trú tại xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc mua mới và đăng ký chính chủ mang tên anh H từ tháng 8/2006, đến giữa năm 2017 do không có nhu cầu sử dụng nên anh H đã bán lại chiếc xe mô tô trên cho bà H, khi bán xe cho bà H thì anh H không biết bà H chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Hiếu là phù hợp.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H9-5033, do là tài sản hợp pháp của bà H nên cần trả lại cho bà H theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98, do là tài sản hợp pháp của bà Mai nên cần trả lại cho bà Mai theo quy định.
Đối với đám mảnh nhựa vỡ, gương vỡ, dép, khẩu trang thu tại vị trí số (9), chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số (6) và số (7), tổ chức mô cơ, tóc thu tại vị trí số (10) trên hiện trường và các mẫu trả do cơ quan giám định hoàn lại sau giám định, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê D phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê D 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê D cho UBND xã V, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với đám mảnh nhựa vỡ, gương vỡ, dép, khẩu trang thu tại vị trí số (9), chất màu nâu đỏ thu tại vị trí số (6) và số (7), tổ chức mô cơ, tóc thu tại vị trí số (10) trên hiện trường và các mẫu trả do cơ quan giám định hoàn lại sau giám định do không có giá trị sử dụng
Trả lại cho bà Hạ Thị H 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H9- 5033 nhãn hiệu FANTOM; Trả lại cho bà Nguyễn Thị Mai 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88L1- 456.98 nhãn hiệu HONDA, loại xe Blade.
Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/12/2022 giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Vĩnh Tường; - CCTHADS huyện Vĩnh Tường; - Bị cáo D; - UBND xã V; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hải THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải |