vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bốbị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nông Văn C 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày19/12/2022). Tạm giam bị cáo 45 ngày theo Quyết định tạm giám số: 14/2023/HSST-QĐTG ngày 26/4/2023. Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bốbị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày 26-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"Ông Nguyễn Quang Tiếp."

Ông Đỗ Duy Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H tham gia phiên tòa:Ông Nguyễn Việt Thắng - Kiểm sát viên.

Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với:

Bị cáoNông Văn C; Sinh ngày 15/4/2001, tại huyện V, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn Pạu, xã Ngọc M, huyện V, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nông Văn V, sinh năm 1979 và bà Sằm Thị X, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có;Tiền án: Không;

Tiền sự: Có 01 vào ngày 24/06/2021, Công an xã Ngọc Linh, huyện V, tỉnh H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” (Đến nay bị cáo vẫn chưa nộp tiền phạt).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt)."

"

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"và"diễn"biến"tại"phiên"tòa,"nội"dung" vụ"án"được"tóm"tắt"như"sau:"

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2022, Nông Văn C, sinh ngày 15/4/2001, trú tại: thôn Pạu, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H là người nghiện ma túy, do nhu cầu cần sử dụng chất ma túy (Heroine) nên C đi bộ một mình tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi đi đến khu vực cổng sau chợ trung tâm thị trấn

1

V (thuộc tổ 7, thị trấn V, huyện V, tỉnh H), C gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m55, dáng người gầy, nước da ngăm đen, mặc áo khoác gió màu xám, quần vải dài màu đen, đeo khẩu trang, đang đứng sát tường rào chợ. Qua biểu hiện của người này C cho rằng người này cũng là người nghiện ma túy Heroine nên C tiến đến gần nói: “Anh có cái kia không”, người đàn ông đáp: “Cái kia là cái gì”, C nói: “Trắng ý, anh có không”, hiểu ý C muốn hỏi mua túy nên người đó đáp: “Lấy bao nhiêu”, C đáp: “Cho em 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)” C lấy tiền trong người ra đưa cho người đàn ông 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Người đàn ông cầm tiền xong nói: “Chờ một lúc nhá” rồi đi về hướng vào bên trong chợ. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông đó quay lại đưa cho C 03 gói giấy, gồm: Gói thứ nhất (1) là gói giấy màu trắng, có chữ màu đen, kích thước 1,7cm x 01cm, bên trong có chứa chất màu trắng đục dạng cục; Gói thứ hai (2) là gói giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh, kích thước 2,2cm x 1,2cm, bên trong có chứa chất màu trắng đục dạng cục; Gói thứ ba (3) là gói giấy một mặt màu trắng, một mặt nhiều màu sắc, kích thước 2,5cm x 1,2cm, bên trong có chứa chất màu trắng đục dạng cục, 03 gói giấy đều là ma túy Heroine. C cất giấu 03 gói giấy chứa ma túy (Heroine) đó vào trong túi quần phía trước, bên phải của mình, còn người đàn ông bán ma túy (Heroine) cho C rời đi theo hướng vào bên trong chợ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi C đang đi bộ tại khu vực tổ 5, thị trấn V, huyện V, tỉnh H thì bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 16 giờ 05 phút ngày 19 tháng 12 năm 2022 tại tổ 5, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H (BL số 01-02): “Hồi 16 giờ 00 phút ngày 19/12/2022, tại tổ 5 thị trấn V, huyện V, tỉnh H, qua triển khai các biện pháp nghiệp vụ, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế, Ma túy Công an huyện V phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải của Nông Văn C có 03 gói giấy, bên trong có chứa chất màu trắng đục, dạng cục (nghi là ma túy)”.

Tại Bản kết luận giám định số 09/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận (BL số 66): “Chất bột màu trắng đục dạng cục gửi giám định ký hiệu A1,A2,A3 là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,379g (không phẩy ba trăm bảy mươi chín gam)”.

Trước Cơ quan điều tra, Nông Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình (Từ BL số 73 đến BL số 90), phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số: 12/CT-VKS-VXngày 24/3/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H đã truy tố bị cáo Nông Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nông Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù

2

hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng vật chứng thu giữ và các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nông Văn C theo cáo trạngvà đề nghị Hội đồng xét xử

Tuyên bố bị cáo Nông Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.Xử phạt bị cáo Nông Văn C từ13 (mười ba) tháng tù đến15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/12/2022).

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền, bị cáo là laođộng tự do, không có thu nhập ổn định đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phívà quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận vớiluận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo nhận thấy việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"được" thẩm"tra"xét"hỏi,"tranh"luận"tại"phiên"toà,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"định"như"sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nông Văn C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H đã truy tố, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19/12/2022, tại tổ 7, thị trấn V, huyện V, tỉnh H bị cáo đãmua ma túy của một người đàn ông (không"biết"tên,"tuổi,"địa"chỉ)" với giá 500.000đ (Năm" trăm" nghìn" đồng), loại ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,379g (không"phẩy"ba"trăm"bảy"mươi"chín"gam)."Đến khoảng 16 giờ

3

00 phút ngày 19/12/2022 bị cáobị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuýtại tổ 05, thị trấn V, huyện V, tỉnh H, đã tạm giữ tang vật đưa bị cáo về trụ sở để điều tra, làm rõ. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra cũng như phù hợp với biên bản sự việc, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong và cân tịnh, biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, kết luận giám định, biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu cùng những chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, phản ánh trong hồ sơ và được thẩm tra xác minh tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nông Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điểu 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện nên hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bên cạnh đó bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo C, C không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi có đủ chứng cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:Các mẫu vật ký hiệu A1, A2, A3 được đựng trong 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, A3, kết luận 09/KL-KLHS”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. Toàn bộ vỏ bao gói và 01 phong bì niêm phong cũ được cho vào 01 phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ: “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, vụ Nông Văn C tàng trữ trái phép chất ma túy” đã qua sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

4

30/12/2016 của UBTVQH “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V phù hợp với quy định của pháp luật được chấp nhận.

Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 21; khoản 1 Điều 23của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bốbị cáo Nông Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Xử phạt bị cáo Nông Văn C 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày19/12/2022). Tạm giam bị cáo 45 ngày theo Quyết định tạm giám số: 14/2023/HSST-QĐTG ngày 26/4/2023.

3.Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ gồm:

Các mẫu vật ký hiệu A1, A2, A3 được đựng trong 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, A3, kết luận 09/KL-KLHS”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

Toàn bộ vỏ bao gói và 01 phong bì niêm phong cũ được cho vào 01 phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ: “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ, vụ Nông Văn C tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật"chứng"có"đặc"điểm"như"biên"bản"giao"nhận"vật"chứng"giữa"Cơ"quan" CSĐT"Công"an"huyện"V"và"Chi"cục"thi"hành"án"dân"sự"huyện"V"ngày"24/3/2023."

4.Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nông Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nông Văn C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 26/4/2023).

Trường" hợp" quyết"định" được" thi" hành" theo"quy"định" tại" Điều" 2" Luật" thi" hành"án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án"dân"sự" có"quyền"thỏa"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi"hành" án"hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"6,7,"7a"và"9"luật"thi"

5

hành"án"dân"sự;"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại"Điều"30" Luật"thi"hành"án"dân"sự./."

Cỡ chữ