vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12 /2023/HS-ST
Ngày: 21-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Ông Phan Công Điện

2. Ông Nguyễn Văn Dương

3.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

4.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/01/1989. Nơi sinh: PH, Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không có; Trình độ học vấn: 5/12; Cha ruột: Nguyễn Văn Kh, (chết); Mẹ ruột: Hồ Thị L, sinh năm 1953 (sống); Anh, chị em ruột: 05 người. Lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ: Không; Con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không

Bị cáo Nguyễn Văn H bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 06/10/2022 đến ngày 14/10/2022, khởi tố đối với bị cáo và chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vũ liên quan: Hồ Thị L, sinh năm: 1953; Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Có mặt

Bà Lưu Ngọc M, sinh năm: 1970, trú tại: Ấp T, xã H, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 06/10/2022, bị caó Nguyễn Văn H đến quán cà phê Y thuộc xã T, huyện PH, tỉnh Hậu Giang để uống cà phê, tại đây bị caó Nguyễn Văn H đã liên lạc với một người thanh niên tên L (không rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy. Khoảng một giờ sau thì H điều khiển xe môtô BKS 65G1-08622 của mình đi từ quán cà phê Y đến Quốc lộ đường nối Cần Thơ – V tại khu vực thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang gặp người thanh niên tên L (không rõ địa chỉ) để mua ma túy với số tiền 1.700.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy bị cáo Nguyễn Văn H cất ma túy vào túi áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Trên đường về đến đoạn gần cầu T thuộc ấp T, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng với vật chứng.

Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang:

03 (Ba) đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 (Một) bịch nilong được kẹp kín một đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 (Một) xe môtô BKS : 65G1-08622 hiệu wave đã qua sử dụng, 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu samsung màu xanh đã qua sử dụng, 01 (Một) căn cước công dân tên Nguyễn Văn H, 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe tên Lưu Ngọc M, 01 (Một) đoạn băng keo màu đen đã qua sử dụng, 01 (Một) áo dài tay màu xanh đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 941/KL-KTHS ngày 14/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang, kết luận:

Mẫu ký hiệu M1: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,07377 gam, loại Methamphetamine.

Mẫu ký hiệu M1: Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 03 đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,41979 gam, loại Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định:

Mẫu ký hiệu M1: Tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng 1,97713 gam.

Mẫu ký hiệu M2: Tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng 0,22695 gam (BL số 26-27).

Tại cáo trạng số 14/CT-VKS-HPH, ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H để xét xử về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang giữ nguyên Quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Văn Đức 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2022

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình xử lý các vật chứng trong vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố các đương sự đã cung cấp lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các lời khai của những người làm chứng trong vụ án. Từ đó có thể khẳng định Vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 06/10/2022, tại ấp T, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm kinh tế - ma túy Công an huyện PH bắt quả tang bị can Nguyễn Văn H đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị can Nguyễn Văn H có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết chất ma túy được Nhà nước độc quyền trong quản lý, sử dụng nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng lượng 2,49356 gam, loại Methamphetamin đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Từ đó có thể khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).Từ những phân tích đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi nên không cần phạt tiền đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong số: 941/2022 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang; 01 (Một) đoạn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) áo dài tay màu xanh đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu samsung màu xanh đã qua sử dụng.

Đối với chiếc xe môtô BKS : 65G1-08622 hiệu wave, tuy nhiên qua xác minh chiếc xe trên bị cáo mượn của bà Hồ Thị L dung làm phương tiện mua ma tuý nhưng bà L không biết nên hoàn trả lại cho bà L theo đúng quy định của pháp luật. Giao trả cho bị cáo 01 (Một) căn cước công dân tên Nguyễn Văn H; giao trả cho bà Hồ Thị L 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe tên Lưu Ngọc M

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/10/2022.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong số: 941/2022 ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang; 01 (Một) đoạn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) áo dài tay màu xanh đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng hiệu samsung màu xanh đã qua sử dụng.

Đối với chiếc xe môtô BKS : 65G1-08622 hiệu wave, tuy nhiên qua xác minh chiếc xe trên bị cáo mượn của bà Hồ Thị L dung làm phương tiện mua ma tuý nhưng bà L không biết nên hoàn trả lại cho bà L theo đúng quy định của pháp luật. Giao trả cho bị cáo 01 (Một) căn cước công dân tên Nguyễn Văn H; giao trả cho bà Hồ Thị L 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe tên Lưu Ngọc M.

3. Về án phí: Áp dụng nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/12/2021). Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ