- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG MINH TR - TANG TRU TRAI PHEP CHAT MA TUY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS - ST Ngày: 09/03/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé T
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn N
2/ Ông Trương Hữu P
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn P - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Ông Dương Vũ Trường G - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2022/TLST - HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo: Trương Minh T, sinh năm 1983 tại Trà Vinh.
Nơi cư trú: ấp X, xã H, huyện K, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm tóc; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn N, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1958; anh (chị) em ruột có 06 người (lớn nhất sinh 1978, nhỏ nhất sinh 1990); Vợ: Huỳnh Thị P, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: Trương Huỳnh Gia H, sinh năm 2011.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Ngày 26/09/2022 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị tạm giữ. Ngày 29/09/2022 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can chuyển tạm giam cho đến nay ( có mặt tại phiên tòa ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Minh T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy vào tháng 09/2022, loại ma túy T sử dụng là Methamphetamine. Nguồn gốc ma túy mà T sử dụng là thông qua app Grindr của hội người đồng giới nam trên điện thoại di động để liên hệ mua ma túy, sau đó sẽ hẹn địa điểm gặp nhau, giao tiền và nhận ma túy.
Vào khoảng 08 giờ ngày 26/09/2022 T đang ở nhà tại ấp X, xã H, huyện K, tỉnh Trà Vinh, do cần ma túy để sử dụng nên T dùng điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen rồi sử dụng Nick tên T đăng nhập vào app Grindr tìm người bán ma túy để mua về sử dụng. Khi đăng nhập vào app Grindr, T thấy tài khoản tên NJK có đăng bán ma túy nên T nhắn tin hỏi mua 1.300.000 đồng ma túy thì người thanh niên này đồng ý bán và hẹn giao ma túy cho T tại khu vực cầu Bưng Trường thuộc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Trương Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 84K1- 054.43 của chị Trương Thị Bích H đi từ nhà Trí đến khu vực cầu Bưng Trường. Tại đây T gặp một người thanh niên đang ngồi trên chiếc xe Wave màu đen, không xác định được biển kiểm soát, T hỏi và biết đây là người bán ma túy trên app Grindr mà T đã đặt mua. Người này đưa cho T 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ bên trong chứa 07 cuộn giấy màu trắng được quấn băng keo màu vàng và nói là ma túy ở bên trong, T nhận ma túy và đưa 1.300.000 đồng cho người nam thanh niên. Nhận được ma túy xong khoảng 08 giờ 30 phút, T cất giấu ma túy vừa mua được vào nón bảo hiểm đang đội, rồi điều khiển xe mô tô đến thành phố Vĩnh Long để mua một số dụng cụ làm tóc.
Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe trên quốc lộ 53 đoạn thuộc khóm A, thị trấn H, huyện L thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ phối hợp với Công an thị trấn Long Hồ tuần tra yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ bên trong nón bảo hiểm mà T đang đội thu giữ 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng; 05 đoạn ống hút màu xanh và 01 đoạn ống hút màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng cùng 01 xe mô tô biển kiểm soát 84K1 – 054.43, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen sim 1 số 0383898273, sim 2 số 0339372882, tiền Việt nam 550.000 đồng
Kết luận giám định số: 693/ KL-KTHS ngày 28/09/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nilon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,8479 (một phẩy tám bốn bảy chín) gam loại Methamphetamine.
Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 06 đoạn ống hút được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,8483 (một phẩy tám bốn tám ba) gam loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 05/CT - VKSLH ngày 21/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo Trương Minh T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Long Hồ thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị:
- Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Minh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Minh T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong số 693 ngày 28/05/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa vật chứng còn lại sau giám định và vỏ bao gói;
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh đen. Tịch thu tiêu hủy sim 1 số 0383898273 mà bị cáo sử dụng để mua ma túy và sim 2 số 0339372882 bị cáo không có yêu cầu nhận lại (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/12/2022).
Trả lại cho bị cáo số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi ngàn đồng)
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Minh T phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trương Minh T thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát.
Ý kiến của bị cáo: bị cáo thừa nhận có mua 01 bịch ma túy của một nam thanh niên không rõ nhân thân chưa kịp sử dụng thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo thấy được hành vi của mình là sai trái, đã ăn năn hối cải mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình chăm sóc mẹ, lo cho con cái, bị cáo hứa sẽ không vi phạm pháp luật, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung Cáo trạng đã nêu: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/09/2022, Trương Minh T mua 1.300.000 đồng ma túy tại khu vực cầu Bưng Trường thuộc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cất giấu bên người nhằm mục đích sử dụng cá nhân nhưng chưa sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày khi T đang điều xe đến đoạn đường thuộc khóm A, thị trấn H, huyện L thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ cùng Công an thị trấn Long Hồ bắt quả tang T đang tàng trữ 3,6962 gam loại Methamphetamine.
Lời trình bày và khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khách quan kết luận bị cáo Trương Minh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật sẽ bị phát hiện và xử lý nhưng vẫn mua ma túy về sử dụng. Do đó cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục để cải tạo, sửa chữa trở thành người tốt. Đồng thời, qua đó nhằm đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ và đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Có ông ngoại Phạm Văn M được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bà ngoại Nguyễn Thị X được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; cậu Phạm Văn T là liệt sĩ.
Riêng đối với hành vi của người nam thanh niên bán ma túy cho Trương Minh T. Hiện cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ đang phối hợp với cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Vũng Liêm xác minh làm rõ. Khi nào xác định được đối tượng xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 693 ngày 28/05/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa vật chứng còn lại sau giám định và vỏ bao gói;
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh đen. Tịch thu tiêu hũy sim 1 số 0383898273 mà bị cáo sử dụng để mua ma túy và sim 2 số 0339372882 bị cáo không có yêu cầu nhận lại (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/12/2022).
- Trả lại cho bị cáo số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi ngàn đồng).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Minh T phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Trương Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/09/2022. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 693 ngày 28/05/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long bên trong chứa vật chứng còn lại sau giám định và vỏ bao gói;
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh đen. Tịch thu tiêu hủy sim 1 số 0383898273 mà bị cáo sử dụng để mua ma túy và sim 2 số 0339372882 bị cáo không có yêu cầu nhận lại (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/12/2022).
- Trả lại cho bị cáo số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi ngàn đồng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Minh T phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long;
- Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ;
- Chi cục thi hành án dân sự Long Hồ;
- Công an huyện Long Hồ;
Đã ký
- Bị cáo, bị hại;
- Phòng HS CA tỉnh Vĩnh Long
- Lưu hồ sơ./.
Nguyễn Văn Bé T CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ; - Chi cục thi hành án dân sự Long Hồ; - Công an huyện Long Hồ; - Bị cáo, bị hại; - Phòng HS CA tỉnh Vĩnh Long - Lưu hồ sơ./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bé Tư |