- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày 28-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vi Thị Hòa;
Ông Trần Dương Công Hiếu.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hứa Thuỳ Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1999 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P và bà Tàng Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giam từ ngày 22/12/2022 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Lường Văn D, sinh năm 1980, cư trú tại: Thôn G, xã L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vi Văn H, sinh năm 1986, cư trú tại: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 02/5/2022, Hoàng Văn N cùng bạn uống bia tại thôn N, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi uống bia xong Hoàng Văn N nhờ bạn chở về nhà thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Airblade, màu bạc đen, biển kiểm soát (BKS) 12L1-190.14 của Vi Văn H được gửi tại nhà của Hoàng Văn N và có để sẵn chìa khóa xe. Hoàng Văn N chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhưng muốn có xe đi chơi nên đã tự ý lấy chiếc xe mô tô nói trên đi tới hồ N thuộc khu E, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Hoàng Văn N một mình điều khiển xe mô tô BKS 12L1-190.14 đi từ hồ N về nhà di chuyển trên đường quốc lộ 4B theo hướng huyện Đ - thành phố L, khi đi đến Km31+830 thuộc địa phận khu 5B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn N do không tỉnh táo đã điều khiển xe mô tô BKS 12L1-190.14 đi lấn sang làn đường bên trái, đâm vào phía trước xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen - trắng - vàng, BKS 12L1-049.71 do anh Lường Văn D điều khiển đi theo hướng ngược lại. Sau khi xảy ra va chạm, Hoàng Văn N và xe mô tô BKS 12L1-190.14 đổ ngã trên vỉa hè bên trái phần đường đi của N; anh Lường Văn D và xe mô tô BKS 12L1-049.71 đổ ngã tại chỗ trên phần đường của ông D. Hậu quả Hoàng Văn N, anh Lường Văn D đều bị thương và được đưa đến Trung tâm Y tế huyện L để cấp cứu, 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xác định:
Hiện trường được xác định tại Km31+830 quốc lộ 4B, thuộc địa phận khu B, thị trấn N, huyện Lộc B, tỉnh Lạng Sơn nằm trong khu vực đông dân cư. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị che khuất. Mặt đường trải bê tông nhựa phẳng, có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng ở giữa phân chia thành hai chiều xe chạy. Mặt đường rộng 08,45m, từ tâm vạch kẻ đứt đoạn kéo về mép đường bên trái rộng 04,1m, tiếp giáp với mép đường bên trái là rãnh thoát nước rộng 0,4m, tiếp giáp với rãnh thoát nước là bờ lốc vỉa hè cao 0,15m, rộng 0,12m, vỉa hè trái rộng 04m.
Hiện trường được mô tả theo chiều hướng huyện Đình Lập - thành phố Lạng Sơn. Điểm mốc được xác định là đầu hồi phía trước bên trái số nhà 55, khu B, thị trấn Na, huyện L, tỉnh Lạng Sơn nằm trên vỉa hè bên phải. Lấy mép đường bên trái hướng huyện Đ - thành phố L làm chuẩn. Các dấu vết, phương tiện thu thập tại hiện trường được đánh số thứ tự lần lượt như sau:
+ Vị trí số (1): Là vết mài trượt màu đen diện 5,73m x 0,03m nằm trên phần đường bên trái có vết trượt theo hướng huyện Đ - thành phố L. Đầu vết hướng huyện Đ, cuối vết hướng thành phố L chếch mép đường trái. Đầu vết cách vị trí mốc 12,70m, cách mép đường trái 1,76m; cuối vết cách mép đường trái 0,86m.
+ Vị trí số (2): Là đa vết cày trượt trên mặt đường diện 0,29m x 0,10m nằm trên phần đường bên trái có vết trượt theo hướng huyện Đ - thành phố L. Đầu vết cách mép đường trái 1,03m; cuối vết cách mép đường trái 01m, cách điểm cuối vết mái trượt của vị trí số (1) hướng thành phố L chếch mép đường trái 0,14m.
+ Vị trí số (3): Là vết cày trượt diện 2,15m x 0,13m nằm trên phần đường bên trái có vết trượt theo hướng huyện Đ - thành phố L. Đầu vết cách mép đường trái 01,13m, cách điểm cuối đa vết cày trượt vị trí số (2) hướng huyện Đ 2,46m; cuối vết kết thúc tại chân dẫm lái bên phải xe mô tô BKS 12L-049.71.
+ Vị trí số (4): Là xe mô tô BKS: 12L1-049.71 để nghiêng phải trên phần đường bên trái, đầu xe hướng thành phố L chếch mép đường trái, đuôi xe hướng huyện Đ chếch mép đường phải. Tâm bánh trước cách mép đường trái 0,50m, tâm bánh sau cách mép đường trái 01,10m.
+ Vị trí số (5): Là vùng chất dịch màu đỏ không rõ hình dạng diện 0,50m x 01m nằm trên phần đường bên trái. Tâm vết cách mép đường trái 0,22m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 12L1-049.71 là 1,10m.
+ Vị trí số (6): Là xe mô tô BKS: 12L1-190.14 đổ nghiêng trái, nằm trên vỉa hè bên trái. Đầu xe hướng thành phố L, đuôi xe hướng huyện Đ. Tâm trục bánh trước cách mép đường trái 01m. Tâm trục bánh sau cách mép đường trái 0,70m và cách 1,20m hướng huyện Đ chếch mép đường phải là tâm vùng chất dịch hiện màu đỏ.
Mở rộng trường không còn dấu vết gì thêm.
* Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 16 giờ 12 phút ngày 02/5/2022 đối với Hoàng Văn N có kết quả kiểm tra là 0,541 mg/l khí thở.
* Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 16 giờ 14 phút ngày 02/5/2022 đối với Lường Văn D có kết quả kiểm tra là 0,000 mg/l khí thở.
* Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 186/2022/PYTT ngày 10/8/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Lạng Sơn kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lường Văn D là 62% (sáu mươi hai phần trăm).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 13/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Lộc Bình kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 12L1-190.14 là 10.750.000đ (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 12L1-049.71 là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
* Tại bản Kết luận giám định kỹ thuật số: 72/GĐKT-ĐK ngày 25/5/2022 của Công ty Cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới L kết luận khi xảy ra tai nạn các hệ thống an toàn như sau:
Xe mô tô BKS 12L1-049.71: Hệ thống đèn chiếu sáng, các tín hiệu đèn còi do xe bị hư hỏng không có đủ cơ sở kết luận. Hệ thống an toàn khác của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và bảo đảm an toàn kỹ thuật. Xe mô tô BKS 12L1-190.14: Hệ thống đèn chiếu sáng, các tín hiệu đèn còi do xe bị hư hỏng không có đủ cơ sở kết luận. Hệ thống an toàn khác của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và bảo đảm an toàn kỹ thuật.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, ngày 06/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu bạc - đen, BKS 12L1-190.14, số khung: RLHJF6316HZ044313, Số máy: JF63E2264356 (xe cũ đã qua sử dụng) và các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vi Văn H. Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen - trắng - vàng, BKS 12L1-049.71, số khung: 5268DY183178, số máy: JC52E1133013 (xe cũ đã qua sử dụng) và các giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lường Văn D.
Những lời khai tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vi Văn H yêu cầu bị cáo Hoàng Văn N bồi thường thiệt hại về tài sản do chiếc xe mô tô Honda Airblade, màu bạc - đen, BKS 12L1-190.14 bị hư hỏng với số tiền là 10.750.000 đồng (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Bị cáo Hoàng Văn N chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của anh Vi Văn H.
Bản cáo trạng số: 14/CT-VKS-LB, ngày 01 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố và chấp nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại anh Lường Văn D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vi Văn H.
Bị hại anh Lường Văn D trình bày: Anh Lường Văn D và bị cáo Hoàng Văn N đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản với tổng số tiền là 121.000.000 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu đồng). Bị hại đã nhận được số tiền bồi thường là 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) do gia đình bị cáo đưa trực tiếp. Nay, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền còn lại 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) xong trước ngày 31/12/2023 và tính lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, giữa bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Cụ thể: Bị cáo Hoàng Văn N có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho bị hại anh Lường Văn D số tiền là 121.000.000 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu đồng). Bị hại đã nhận được 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng), bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại số tiền còn lại là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trước ngày 31/12/2023. Bị cáo Hoàng Văn N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Vi Văn H số tiền 10.750.000 đồng (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định của pháp luật. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an huyện Lộc Bình trả lại toàn bộ vật chứng cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định nên đề nghị không xem xét. Bị cáo được miễn án phí theo quy định.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vi Văn H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Xét thấy, việc vắng mặt của anh Vi Văn H không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự .
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ tại hiện trường vụ tai nạn giao thông; biên bản khám nghiệm phương tiện và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/5/2022, Hoàng Văn N không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, đã sử dụng rượu bia (trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,541 mg/l khí thở), điều khiển xe mô tô BKS 12L1-190.14 di chuyển theo hướng huyện Đình L - thành phố L. Khi đi đến Km31+830 quốc lộ 4B, thuộc địa phận khu B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đã đi lấn làn đường trái và xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 12L1-049.71 do Lường Văn D điều khiển xe đi hướng ngược lại. Hậu quả anh Lường Văn D bị thương tích 62% (sáu mươi hai phần trăm), 02 xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn N đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định các hành vi cấm:“Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”; vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi cấm:“Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”. Do đó hành vi của bị cáo Hoàng Văn N đã cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn N đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về sức khỏe và tài sản của người khác, do đó cần được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho người tham gia giao thông.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, là người có nhân thân tốt. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo đã bồi thường một phần cho bị hại, bị cáo có ông nội là Hoàng Minh Ph được Chủ tịch nước tặng Huy chương hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đinh tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hiện nay bị cáo không có công việc cũng như thu nhập ổn định do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cụ thể: Bị cáo Hoàng Văn N có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại (bao gồm thiệt hại về sức khỏe và tài sản) cho bị hại anh Lường Văn D tổng cộng là số tiền là 121.000.000 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu đồng), bị cáo đã bồi thường trực tiếp cho bị hại số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng), nay bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) xong trước ngày 31/12/2023. Bị cáo Hoàng Văn N có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản cho anh Vi Văn H số tiền 10.750.000 đồng (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, ngày 06/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu bạc - đen, BKS 12L1-190.14, số khung: RLHJF6316HZ044313, Số máy: JF63E2264356 (xe cũ đã qua sử dụng) và các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vi Văn H. Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen - trắng - vàng, BKS 12L1-049.71, số khung: 5268DY183178, số máy: JC52E1133013 (xe cũ đã qua sử dụng) và các giấy tờ kèm theo cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lường Văn D. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Lường Văn D, đã có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô BKS 12L1-049.71 đi đúng phần đường, chấp hành đúng các quy định của pháp luật nên trong vụ tai nạn giao thông xảy ra xác định anh Lường Văn Dẹt không có lỗi. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Hoàng Văn P (bố đẻ của bị cáo) là người quản lý xe mô tô BKS 12L1-190.14 do chủ xe Vi Văn H gửi nhờ trông giữ. Qua quá trình điều tra xác định, ngày 02/5/2022 Hoàng Văn N tự ý lấy xe mô tô nói trên tham gia giao thông, gia đình ông Hoàng Văn P không biết. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia thông đường bộ. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14. Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn toàn bộ án phí nên bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 590, của Bộ luật Dân sự. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 22/12/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự:
3.1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Hoàng Văn N và bị hại Lường Văn D, cụ thể: Bị cáo Hoàng Văn N có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho anh Lường Văn D số tiền 121.000.000 đồng (một trăm hai mươi mốt triệu đồng). Xác nhận bị cáo Hoàng Văn N đã bồi thường trực tiếp cho anh Lường Văn D số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng). Bị cáo Hoàng Văn N còn phải bồi thường tiếp cho anh Lường Văn D số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) xong trước ngày 31/12/2023.
3.2. Bị cáo Hoàng Văn N có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Vi Văn H số tiền 10.750.000 đồng (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo lãi suất chậm trả của ngân hàng nhà nước, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí:
Bị cáo Hoàng Văn N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo, bị hại…; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Huyền Trang |