- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày: 28-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Chiến, ông Vũ Kim Quy.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Đặ ng Văn Hà o - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/ QĐXXST - HS ngày 18 tháng 4 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Võ Xuân T , sinh ngày 03 tháng 10 năm 2003; Nơi sinh : Huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12;
Cha không xá c đị nh đượ c; con bà Lê Thị H, sinh năm 1967;
Bị cáo có vợ Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 2002, có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 23/12/2022 bị cáo bị Ủy ban nhân dân xã Q ra quyế t đị nh cai nghiệ n ma tú y tự nguyệ n tạ i cộ ng đồ ng, bị cáo chưa chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 10/02/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lê Xuân S, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2001; Nơi sinh: Huyện K, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12;
Con ông Lê Xuân H, sinh năm 1968 và bà Dương Thị L, sinh năm 1968;
Bị cáo có vợ Nguyễ n Thị Trầ n Minh T , sinh năm 2004, có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiề n sự : Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2023 đến ngày 10/02/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H, sinh năm 1967;
Đị a chỉ : Thôn X, xã Q, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Y K Niê, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Xuân S và Võ Xuân T cùng trú tại Thôn X, xã Q, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk là nhữ ng ngườ i nghiệ n ma tú y tạ i đị a phương . Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/01/2023, Lê Xuân S đến nhà T chơi. Tại đây S nói với T là S có số tiền 300.000 đồ ng. Nghe S nói vậy, T liề n rủ S đi mua ma tú y về sử dụ ng thì S đồ ng ý . Khi đó , T lấ y xe chiế c mô tô biể n kiể m soá t47L1-193.47 (xe củ a bà Lê Thị H là mẹ của T) chở S đi mua ma tú y. Khi đi đến đoạn đường tránh từ thị trấn B về buôn T, xã E, huyệ n K thì S và T gặ p mộ t ngườ i thanh niên điề u khiể n xe mô tô đi ngượ c chiề u. Lúc này, T gọi người này lại và hỏi mua ma túy thì người n ày đồng ý. Rồ i T để S đứ ng chờ còn T quay lạ i chỗ ngườ i thanh niên hỏi mua 300.000 đồ ng ma tú y . Sau khi mua đượ c ma tú y, T cầ m ma tú y trong lò ng bà n tay phải quay lại chỗ S và nói với S đã mua đượ c ma tú y. Sau đó S điề u khiể n xe chở T đi về nhà T để cùng sử dụng. Khi S và T đi đượ c mộ t đoạ n thì bị lự c lượ ng Công an huyệ n K kiể m tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của T 01 gói ny lon bên trong có chưa chấ t tinh thể mà u trắ ng. T và S khai nhậ n đó là ma tú y, T và S cùng mua về để sử dụng chung. Công an huyệ n K đã lậ p biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang , thu giữ vậ t chứ ng và niêm phong theo quy đị nh.
Tại bản kết luận giám định số 173/KL-KTHS ngày 07/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ , kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ny lon đượ c niêm phong gử i giá m đị nh là ma tú y , khố i lượ ng 0,1676 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 10/CT-VKS-HS ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố các bị cáo Võ Xuân T, Lê Xuân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Võ Xuân T , Lê Xuân S thừa nhận đã thực hiện các hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Krông Ana giữ nguyên nội dung cáo trạng, truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Võ Xuân T, Lê Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Xuân T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2023.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2023.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự ; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,1256 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter , biể n kiể m soá t 47L1-193.47 thu giữ của Võ Xuân T thuộ c sở hữ u củ a bà Lê Thị H, việ c T dùng chiếc xe mô tô nà y đi mua ma tú y thì bà H không biế t nên cầ n công nhậ n Cơ quan Cảnh sát điề u tra đã ra quyế t đị nh xử lý vậ t chứ ng trả lạ i chiế c xe mô tô cho bà H là chủ sở hữ u hợ p phá p.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Ana, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về thủ tục tố tụng: Đối với người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợ p lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đều không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do ý thứ c coi thườ ng phá p luậ t nên khoả ng 17 giờ 30 phút ngày 31/01/2023 tại đoạn đường thuộc buôn T, xã E, huyệ n K, Võ Xuân T và Lê Xuân S có hành vi tà ng tr ữ trái phép chất ma túy để sử dụng thì bị Công an huyệ n K phát hiện, bắ t quả tang . Tang vậ t thư giữ 01 gói ny lon mà u trắ ng , bên trong có chứ a chấ t rắ n dạ ng tinh thể mà u trắ ng là ma tú y , có khối lượng 0,1676 gam, loại Methamphetamine
Xét thấy các bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo nói trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức được tác hại của ma túy, nhà nước nghiêm cấm hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển ma túy, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về ma túy nên đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian hợp lý để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đủ sức răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo Võ Xuân T, Lê Xuân S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Xét vai trò thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Võ Xuân T tham gia với vai trò vừa là người rủ rê, người tích cực thực hành trực tiếp tham gia vào hành vi mua ma tú y về tà ng trữ , đồ ng thờ i bị cáo Võ Xuân T có 01 tiền sự ngày 23/12/2022 bị Ủy ban nhân dân xã Q ra quyế t đị nh cai nghiệ n ma tú y tự nguyệ n tạ i cồ ng đồ ng chưa chấ p hà nh xong quyế t đị nh ; còn bị cáo Lê Xuân S là người đưa tiền cho T và cùng T trự c tiế p đi mua ma tú y về tàng trữ để sử dụng nên bị cá o T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo S là phù hợp.
. Đối với người đà n ông đã bá n ma tú y cho Võ Xuân T và Lê Xuân S do không xá c đị nh đượ c nhân thân, lai lị ch nên chưa có căn cứ để xử lý .
. Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự ; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 0,1256 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiế c xe mô tô tô nhã n hiệ u Yamaha Exciter , biể n kiể m soá t 47L1-193.47 cho bà H là chủ sở hữu hợp pháp.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố: Các bị cáo Võ Xuân T, Lê Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
[2]. Về Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt: Bị cáo Võ Xuân T 01 (mộ t) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân S 01 (mộ t) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/02/2023.
[3]. Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự , khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 0,1256 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định.
- Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã ra quyết định xử lý vật chứng số 10/QĐ-ĐCSHS-KTMT ngà y 14/3/2023 về việ c trả lại 01 chiế c xe mô tô tô nhã n hiệ u Yamaha Exciter , biể n kiể m soá t 47L1-193.47 cho bà Lê Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K).
[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Võ Xuân T , Lê Xuân S mỗ i ngườ i phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợ i, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; TANDTC; - Sở tư pháp; - VKSND huyện; tỉnh; - CA huyện; - THAHS; THADS; - Bị cáo; - Đương sự ; - Cồ ng thông tin điệ n tử Tò a á n; - Lưu hồ sơ; VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Văn Thành |