- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Doãn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự - phạm tội vi phạm quy…"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bị cáo Phan Doãn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢ PƢH TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày 12 tháng 5 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C , TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Tiến Sỹ,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Xuân Toàn
Bà Nguyễn Thị Mừng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh G .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh G tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Niên, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Doãn T, sinh năm 1965 tại huyện V, tỉnh T .
Nơi cư trú: Thôn , huyện C , tỉnh G .
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Doãn Quãi và bà Vũ Thị T (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Vũ Thị N , sinh năm 1972 và 04 người con (lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2000).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Anh Rah Lan T , sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn P , thị trấn N , huyện C , tỉnh G . Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại anh Rah Lan T : Ông Lưu Đình Q - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G . Có mặt.
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G .
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Rmah M - dân tộc Jrai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 09/10/2022, Phan Doãn T có Giấy phép lái xe hạng C theo quy định, một mình trực tiếp điều khiển chiếc xe ô tô tải BKS: 81C- 008.39 (nhãn hiệu JRD, số loại EXCELI, màu sơn Vàng; xe đã hết hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường từ ngày 25/7/2019) để đến xã Ia Pal, huyện Chư Sê, tỉnh G kéo chiếc xe công nông của gia đình bị mắc lầy (nhà của Phan Doãn T ở giáp đường Hồ Chí Minh, thuộc thôn T , xã Ia R , huyện C , tỉnh G ; chiếc xe ô tô tải được đỗ trong khu vực sân nhà, đầu xe hướng vào phía trong nhà, đuôi xe hướng ra ngoài đường Hồ Chí Minh). Lúc này, Phan Doãn T điều khiển chiếc xe ô tô tải lùi từ từ tại vị trí đỗ trong sân ra phía cổng; khi xe vừa qua cổng thì Phan Doãn T cho xe dừng lại, xuống xe và đi ra phía sau đuôi xe để quan sát người và phương tiện di chuyển trên đường Hồ Chí Minh. Sau khi quan sát thấy không có người, phương tiện sắp di chuyển đến gần thì Thuấn tiếp tục điều khiển chiếc xe trên lùi ra đường; Thuấn điều khiển đánh lái để phần đuôi xe lùi ra sau hướng Chư Pưh, phần đầu xe quay dần về phía Chư Sê. Khi Thuấn đang lùi xe ra đến phần đường phải (tính theo hướng Chư Sê -> Chư Pưh) thì có Rah Lan T (sinh năm 1997; trú tại P , thị trấn N , huyện C , tỉnh G ) không có Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, trực tiếp điều khiển xe mô tô BKS: 88K6-0325 (nhãn hiệu FULAI, màu sơn Đỏ, dung tích xi lanh là 107cm3), di chuyển bên phần đường phải, trên đường Hồ Chí Minh, theo hướng Chư Sê -> Chư Pưh, đi tới tông vào khu vực bánh xe phía sau bên phải (bên phụ) của xe ô tô tải do Thuấn điều khiển. Sau va chạm, Rah Lan T cùng xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả: Rah Lan T bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh G ; xe ô tô BKS: 81C-008.39 và xe mô tô BKS: 88K6-0325 bị hư hỏng.
Sau tai nạn xảy ra, các cơ quan chức năng đã phối hợp tổ chức khám nghiệm hiện trường. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn tại Km1640 + 900m đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn T , xã Ia R , huyện C , tỉnh G . Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường được trải thảm bê tông nhựa, mặt đường rộng 10,60m, có vạch sơn vàng không liên tục kẻ giữa tim đường. Tiến hành khám nghiệm và đo vẽ về bên mép đường bên phải tính theo hướng từ Chư Sê đi Chư Pưh có các dấu vết như sau:
- Xe ô tô tải BKS: 81C-00839 (được ký hiệu là số 1) sau tai nạn nằm đỗ trên phần đường phải, đầu xe hơi chếch vào lề đường phải và quay hướng Chư Sê, đuôi xe hơi chếch về vạch tim đường và quay hướng Chư Pưh, tâm trục bánh trước bên trái nằm ngay trên mép đường phải, tâm trục bánh sau bên trái đo đến mép đường phải là 1,5m.
- Ngay sát bánh sau bên phải xe ô tô tải BKS: 81C-00839 có 01 vết cày dạng đứt quãng in lõm xuống mặt đường (được ký hiệu là số 2), vết có diện (8,35 x 0,02)m, đầu vết cách mép đường phải là 2,90m, điểm đầu vết (2) cách tâm trục bánh sau bên phải 0,2m, vết cày có chiều hướng từ Chư Sê -> Chư Pưh, cuối vết hơi chếch mép đường trái theo hướng Chư Sê -> Chư Pưh, điểm cuối của vết cày này nằm ngay gác để chân trước bên phải xe mô tô BKS: 88K6-0325.
- Xe mô tô BKS: 88K6-0325 (được ký hiệu số 3) sau tai nạn nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay hướng Chư Sê, đuôi xe quay hướng Chư Pưh, đuôi xe hơi chếch vào mép đường trái theo hướng Chư Sê -> Chư Pưh, yên xe hướng về mép đường trái, đo từ tâm trục bánh sau xe mô tô (3) đến mép đường phải là 10m, đo từ tâm gác để chân trước bên phải xe mô tô đến mép đường phải là 8,9m, đo từ tâm trục trước xe mô tô đến mép đường phải là 8,8m, đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô đến tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô BKS: 81C-00839 là 9,0m.
- Ngay phía trước gầm xe mô tô BKS: 88K6-0325 có 01 vùng dịch màu hồng, không rõ hình dạng, có diện (0,2 x 0,3)m (được ký hiệu số 4), đo từ tâm vết (4) đến mép đường phải là 8,6m, đo từ tâm vết (4) đến tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 88K6-0325 là 1,4m.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 404 ngày 02/12/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh G kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Rah Lan T là 75%. Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 09/10/2022 của Phòng CSGT Công an tỉnh G đối với Phan Doãn T thì kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của Thuấn là 0,000mg/1 lít khí thở. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Thuấn là âm tính với chất ma túy.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 09/10/2022 của Phòng CSGT Công an tỉnh G đối với Rah Lan T thì kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của T là 0,150mg/1 lít khí thở.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp đề ngày 04/11/2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh G kết luận: Xe ô tô, biển số: 81C-008.39, tại thời điểm giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (sử dụng lốp không đúng theo tài liệu kỹ thuật; chế độ cos đèn chiếu sáng phía trước bên phải không hoạt động; chụp đèn chiếu sáng bên trái bị vỡ; ly hợp đóng, cắt không được).
Tại các bản Kết luận định giá tài sản số 72 và 73 cùng ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Gkết luận:
- Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe ô tô tải BKS: 81C-008.39 là: 1.140.000 đồng.
- Giá trị thực tế phần hư hỏng của xe mô tô BKS: 88K6-0325 là: 1.050.000 đồng.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 81C-008.39 (nhãn hiệu JRD, số loại EXCELI, màu sơn Vàng), quá trình điều tra, xác định đây là tài sản hợp pháp của Phan Doãn T nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh đã ra Quyết định xử lý giao trả chiếc xe ô tô tải trên cho Phan Doãn T nhận. Sau khi nhận lại tài sản, Phan Doãn T không có yêu cầu gì khác.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 88K6-0325 (nhãn hiệu FULAI, màu sơn Đỏ, dung tích xi lanh 107cm3) quá trình điều tra, xác định đây là tài sản của Rah Lan T nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh đã ra Quyết định xử lý giao trả chiếc xe mô tô trên cho Rah Lan T nhận. Sau khi nhận lại tài sản, Rah Lan T không có yêu cầu gì khác.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số: xxxxxxxxxxxx do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 02/12/2019 mang tên Phan Doãn T do Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh chuyển theo hồ sơ vụ án, xét thấy đây là giấy tờ của Phan Doãn T, không phải là vật chứng của vụ án nên trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh đã ra quyết định xử lý giao trả lại Giấy phép lái xe trên cho Phan Doãn T.
Về trách nhiệm dân sự:
- Sau sự việc xảy ra, Phan Doãn T đã tự nguyện bồi thường cho anh Rah Lan T với tổng số tiền là: 20.000.000 đồng. Anh Rah Lan T đã nhận đủ số tiền trên, ngoài ra không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đối với phần hư hỏng của chiếc xe ô tô tải BKS: 81C-008.39 có giá trị thiệt hại là: 1.140.000 đồng, Phan Doãn T đã tự sửa chữa mà không yêu cầu Rah Lan T phải bồi thường gì đối với phần hư hỏng trên.
- Đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô BKS: 88K6-0325 có giá trị thiệt hại là: 1.050.000 đồng, sau khi nhận được xe, Rah Lan T không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Gđã truy tố bị cáo Phan Doãn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Gvẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phan Doãn T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phan Doãn T từ 24 đến 30 tháng cải tạo không giam giữ; Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã IaR , huyện C, tỉnh G giám sát giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo hiện làm nông, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị miễn khấu trừ phần thu nhập cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không đề nghị xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và có lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 09/10/2022, bị cáo có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81C – 008.39, lùi xe từ trong nhà ra ngoài đường thuộc địa phận thôn T , xã Ia R , huyện C , tỉnh G . Do thiếu chú ý quan sát, không áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn khi lùi xe, nên đã gây ra vụ tai nạn với anh Rah Lan T , hậu quả anh Rah Lan T bị tổn thương cơ thể 75%, tài sản bị thiệt hại là 2.190.000 đồng. Lỗi trong vụ tai nạn giao thông này là lỗi hỗn hợp. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, lời khai của người bị hại có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo Phan Doãn T vi phạm vào khoản 5 Điều 4; khoản 4, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 16; khoản 1 Điều 53 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi phạm tội của bị cáo Thuấn là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả làm anh Rah Lan T bị tổn thương cơ thể 75%, tài sản bị thiệt hại là 2.190.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Doãn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Gđã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại Rah Lan T , được bị hại có đơn xin bãi nại, miễn hình phạt cho bị cáo; hiện tại anh Rah Lan T đã hồi phục, có thể tự lao động để nuôi sống bản thân và gia đình.
Mặc khác trong vụ án này, thì bị hại cũng có lỗi là không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhưng Rah Lan T vẫn điều khiển xe mô tô BKS: 88K6-0325 (có dung tích xi lanh là 107cm3) tham gia giao thông mà trong hơi thở có nồng độ cồn (tại thời điểm kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Rah Lan T là 0,150mg/1 lít khí thở), thiếu chú ý quan sát, không có ý thức tự giác nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông giữ gìn an toàn cho mình và người khác. Hành vi của Rah Lan T đã vi phạm khoản 5 Điều 4, khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của Rah Lan T đã bị xử phạt hành chính theo quy định.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Để thể hiện sự nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu do lỗi vô ý. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình đã gây ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.
Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính duy nhất trong gia đình, thu nhập chính từ việc làm nông, hiện đang nuôi vợ thường xuyên đau ốm và 04 người con. Do đó, Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo và miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về dân sự: Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý trước khi chuyển hồ sơ qua Tòa án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử: Bị cáo Phan Doãn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Doãn T 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ; Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Ia Rong, huyện C, tỉnh Glà nơi được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn việc khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ nhà nước cho bị cáo.
Giao bị cáo Phan Doãn T về cho Ủy ban nhân dân xã Ia R, huyện C, tỉnh G nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Gia đình của bị cáo Phan Doãn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Ia R , huyện C, tỉnh G trong việc giám sát, giáo dục theo quy định tại Điều 106 của Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo quy định cuả Pháp luật Thi hành án Hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Phan Doãn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/5/2023) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh G để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Các đương sự; - TAND tỉnh G ; - VKS huyện C ; - Công an huyện C ; - Chi Cục THA DS huyện C ; - UBND xã IaR ; - Sở tư pháp tỉnh G ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Tiến Sỹ |