vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 10/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh:

Tuyên bố bị cáo Danh Vũ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Danh Vũ H 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 04/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày 10/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Thái

2. Ông Lê Quốc Dũng

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa– Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh K xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/HS-ST ngày 08 tháng 02 năm 2023 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Danh Vũ H (tên gọi khác: không), sinh ngày 01/01/1997 tại K; nơi cư trú: ấp T, xã G, huyện Ch, tỉnh K; nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh D, sinh năm 1960 (Chết) và bà Thị Đ (Đ1), sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2022 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thúy Lan- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).

- Người làm chứng:

1/ Anh Danh S, sinh năm 1997 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Ph, xã M, huyện Ch, tỉnh K.

2/ Anh La Tấn Ng, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn M, huyện Ch, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Danh Vũ H (sinh ngày: 01/01/1997 nơi cư trú: tổ 9, ấp Tân Lợi, xã Giục Tượng, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 12 giờ ngày 04/11/2022, H nhờ Danh Sang (là bạn quen ngoài xã hội) tìm mua 500.000 đồng ma túy để sử dụng. Sang điều khiển xe mô tô biển số 68C1-633.47 (xe do S mượn của anh ruột là Danh Đ) chở H đi mua ma túy. Khi H và S đến thị trấn Mi, huyện Ch, K, S kêu H đưa tiền để S đi mua ma túy, H đưa cho Sang 500.000 đồng; còn H thì đợi ở đó. Sau khoảng một giờ đồng hồ thì S quay lại đưa cho H một bao thuốc lá, lúc này H biết bên trong gói thuốc có chứa ma túy nên để gói thuốc vào phía trước lưng quần đang mặc trên người. Sau đó, S điều khiển xe chở H về nhà.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi cả hai đang trên tuyến đường Quốc lộ thuộc khu phố M, thị trấn M, huyện Ch, tỉnh K thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang H đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lưng quần phía trước của H 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS, bên trong có chứa 01 (một) bịch lylon màu xanh – hồng, có kích thước 9,5cm x 3,6cm, hai đầu có hình răng cưa, một đầu bị xé rách một đoạn, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất.

Tại cơ quan công an, H thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Tại Kết luận giám định số 1090/KL-KTHS ngày 07 tháng 11 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh K, kết luận: “Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3851 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

- Đồ vật, tài liệu thu giữ, tạm giữ gồm:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện đã thu giữ và nhập kho các vật chứng:

+ 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1090/2022, ngày 09 tháng 11 năm 2022, người chứng kiến niêm phong Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.

+ 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS màu xanh, kích thước 8,7 cm x 5,6 cm, đã qua sử dụng được niêm phong trong một phong bì màu trắng có chữ CÔNG AN TỈNH K CÔNG AN HUYỆN CH, có chữ ký của Danh Thị Mỹ Á, Dương Ngọc D, Danh S, La Tấn Ng, Danh Vũ H có đóng dấu mộc đỏ của Công an thị trấn Mi, huyện Ch, tỉnh K.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 68C1-633.47 nhãn hiệu Vision, màu đỏ nâu, số khung 5835LZ526011, số máy JF86E5256885. Đã trả cho chủ sở hữu là Danh Đ.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT- VKS- CT ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, tỉnh K đã truy tố bị cáo Danh Vũ H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Danh Vũ H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Danh Vũ H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1090/2022, ngày 09 tháng 11 năm 2022, người chứng kiến niêm phong Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.

+ 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS màu xanh, kích thước 8,7 cm x 5,6 cm, đã qua sử dụng được niêm phong trong một phong bì màu trắng có chữ CÔNG AN TỈNH K CÔNG AN HUYỆN CH, có chữ ký của Danh Thị Mỹ Á, Dương Ngọc D, Danh S, La Tấn Ng, Danh Vũ H có đóng dấu mộc đỏ của Công an thị trấn Minh L, huyện Ch, tỉnh K.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch.

Bà Nguyễn Thúy Lan – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K bào chữa cho bị cáo Danh Vũ H có ý kiến trình bày như sau: Về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội nên trợ giúp viên hoàn toàn thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, về phần hình phạt cũng mong HĐXX xem xét: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Trợ giúp viên đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo bằng mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đã đề nghị cũng đã đủ thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến về quan điểm bảo chữa của Trợ giúp viên tham gia bào chữa cho bị cáo.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Danh Vũ H là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 12 giờ ngày 04/11/2022, H nhờ Danh Sang tìm mua ma túy để sử dụng. Sang điều khiển xe mô tô chở H đi mua ma túy. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H giấu ma túy vào phía trước lưng quần sọt đang mặc và cùng S đi trên đường quốc lộ thuộc khu phố M, thị trấn M, huyện Ch, tỉnh K thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang H đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết luận giám định, ma túy H tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3851 gam.

Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:….; c) Methamphetamin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Như vậy, hành vi của bị cáo cất giấu 0,3851 gam ma túy loại Methamphetamin để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, có cơ sở kết luận cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi của Danh S, trong quá trình điều tra Sang không thừa nhận chở H đi mua ma túy. Do chỉ có duy nhất lời khai của H nên chưa đủ cơ sở để xử lý. Vì vậy, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ch sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ; nếu có cơ sở sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo có đủ năng lực để nhận thức được rằng: Ma túy là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức rõ hậu quả của việc sử dụng ma túy không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đạo đức cũng như kinh tế của chính bản thân bị cáo mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương đồng thời còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng với lối sống buông thả, không có trách nhiệm với bản thân bị cáo vẫn cố tìm mua ma túy để tàng trữ sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang để chịu sự nghiêm trị của pháp luật.

Trong tình hình tội phạm về ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự như hiện nay thì hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, để răn đe giáo dục nhằm ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thuộc diện hộ nghèo; bị cáo là người dân tộc thiểu số và không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét hình phạt khi lượng hình có mức án phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Xét đề nghị của bà Nguyễn Thúy Lan – Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về xử lý vật chứng:

[8.1.] Đối với 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1090/2022, ngày 09 tháng 11 năm 2022, người chứng kiến niêm phong Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định và 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS màu xanh, kích thước 8,7 cm x 5,6 cm, đã qua sử dụng được niêm phong trong một phong bì màu trắng có chữ CÔNG AN TỈNH K CÔNG AN HUYỆN CH, có chữ ký của Danh Thị Mỹ Á, Dương Ngọc D, Danh S, La Tấn Ng, Danh Vũ H có đóng dấu mộc đỏ của Công an thị trấn M, huyện Ch, tỉnh K không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

[8.2.] Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 68C1-633.47 nhãn hiệu Vision, màu đỏ nâu, số khung 5835LZ526011, số máy JF86E5256885 đã qua sử dụng, quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ch đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Danh Đạt nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Danh Vũ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Danh Vũ H 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 04/11/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì màu trắng có dòng chữ CÔNG AN TỈNH K PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ, Niêm phong mẫu vật, vụ số 1090/2022, ngày 09 tháng 11 năm 2022, người chứng kiến niêm phong Lê Thanh Tr, giám định viên Thái Thị Thanh Th, có đóng dấu mộc đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh K, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định và 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS màu xanh, kích thước 8,7 cm x 5,6 cm, đã qua sử dụng được niêm phong trong một phong bì màu trắng có chữ CÔNG AN TỈNH K CÔNG AN HUYỆN CH, có chữ ký của Danh Thị Mỹ Á, Dương Ngọc D, Danh S, La Tấn Ng, Danh Vũ H có đóng dấu mộc đỏ của Công an thị trấn M, huyện Ch, tỉnh K.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 09/QĐ-VKSCT ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, tỉnh K.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 12 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ