vanban.org

Bản án 12/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2023/HS-PT

Ngày: 14/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến Bà Ngô Thị Kim Châu - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thoản – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên. - Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2023/HSPT, ngày 23 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Văn L, do có kháng cáo bị cáo Huỳnh Văn L đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2022/HSST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Văn L, sinh ngày 30/10/1989, tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: số 22/3, ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H ,sinh năm 1969 và bà Phan Thị N, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 23/09/2022 cho đến nay (bị cáo có mặt). Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 44 phút, ngày 26 tháng 7 năm 2022, bị cáo L điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 71C-060.38 lưu thông trên đường tỉnh 911 hướng từ xã H đi xã A, huyện C. Khi đến địa phận ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì đụng vào phía sau xe mô tô mang biển kiểm soát 51K4-1557 do ông Nguyễn Văn C điều khiển chở người ngồi sau là bà Nguyễn Thị D, lưu thông cùng chiều phía trước, sau đó xe mô tô mang biển kiểm soát 51K4-1557 ngã cày vào bên trong lề phải hướng đi và tiếp tục va chạm vào xe mô tô mang biển kiểm soát 84L1-447.78 do ông Quách Văn O dựng bên trong lề phải trước đó. Tai nạn xảy ra bà Nguyễn Thị D bị thương nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu. Cơ quan điều tra chủ trì tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện và khám nghiệm tử thi. Đồng thời, kiểm tra nồng độ cồn của những người tham gia giao thông. Kết quả kiểm tra đối với Huỳnh Văn L là 0,00 miligam/1 lít khí thở; Nguyễn Văn C là 0,00 miligam/1 lít khí thở và Quách Văn O là 0,00 miligam/1 lít khi thở. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 405/KL-KTHS ngày 08 tháng 8 năm 2022 và kết luận giám định số 421/KL-KTHS ngày 15/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến Nguyễn Thị D tử vong là do đa chấn thương, mẫu máu thu giữ của nạn nhận Nguyễn Thị D gửi giám định không tìm thấy thành phần Ethanol (cồn). Kết quả khám nghiệm hiện trường ghi nhận như sau: Nơi tai nạn xảy ra trên đoạn đường thẳng gần nút giao nhau giữa đường tỉnh 911 và đường giao thông nông thôn ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, trên đường có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên ở hai hướng, mặt đường làm bằng bê tông nhựa phẳng, không có dãi phân cách, có vạch kẻ đường màu vàng nét đứt phân chia hai phần đường xe chạy riêng biệt, mặt đường rộng 5,5 mét, một nửa phần đường bên phải theo hướng xã H đi xã A (từ vạch kẻ đường đến mép đường) là 2,5 mét. Xác định cột điện số a4 làm điểm mốc cố định tại hiện trường; chọn mép đường bên phải theo hướng xã H đi xã A làm lề chuẩn. Tất cả các số liệu đều được đo vào mép đường chuẩn. Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện, lời khai những người có liên quan cùng tài liệu kiểm tra, xác minh, thu thập có trong hồ sơ xác định: Vùng va chạm giữa xe mô tô mang biển kiểm soát 51K4-1557 với xe ô tô mang biển kiểm soát 71C-060.38 trong vụ tai nạn giao thông là phần đường bên phải hướng đi của xe mô tô mang biển kiểm soát 51K4-1557 và xe ô tô mang biển kiểm soát 71C-060.38, tâm vùng va chạm cách lề chuẩn là 1,15 mét, cách dấu vết phanh bánh sau bên phải của xe ô tô mang biển kiểm soát 71C-060.38 là 0,6 mét, cách dấu vết cày của xe mô tô mang biển kiểm soát 51K4-1557 là 01 mét. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn giao thông là do bị cáo Huỳnh Văn L điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 71C-060.38 tham gia giao thông không chú ý quan sát dẫn đến tai nạn giao thông vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 của Nước CHXHCN Việt Nam và Điều 5, Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải

quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L 02 (hai) năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 05/01/2023, bị cáo Huỳnh Văn L kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Huỳnh Văn L thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới. Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về áp dụng pháp luật bị cáo L phạm tội với lỗi vô ý nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội với người trên 70 tuổi quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là không đúng quy định, từ việc áp dụng tình tiết tăng nặng không đúng nên án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là có phần nghiêm khắc trong khi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện thỏa thuận khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; gia đình đơn chiếc, khó khăn; gia đình bị cáo có cậu ruột tên Nguyễn Văn N là liệt sĩ, bác ruột tên Huỳnh Văn E có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến và đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn L, sửa Bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Văn L: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử

chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Huỳnh Văn L khai nhận: Vào khoảng 05 giờ 44 phút, ngày 26/7/2022, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 71C-060.38 lưu thông trên đường 911 khi đến địa phân cấp K, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì đụng vào phía sau xe mô tô do ông Nguyễn Văn C điều khiển chở người ngồi sau là bà Nguyễn Thị D đang chạy cùng chiều phía trước, lúc này xe của ông Cương ngã cày vào trong về phải theo chiều đi và va chạm với xe mô tô của ông Quách Văn O đang dựng bên trong lề phải trước đó, tai nạn xảy ra hậu quả làm bà Nguyễn Thị D tử vong. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là nhất quán với nhau không thay đổi, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản hiện trường, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng xác định lời khai tại cơ quan điều tra là do bị cáo tự khai, tự do trình bày theo đúng sự việc, không bị ai ép buộc, dùng nhục hình hay bị xíu giục, do đó có đủ cơ sở xác định lời khai của bị cáo là khách quan. Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát do ngủ gật khi tham gia giao thông là nguyên nhân chính gây ra tai nạn, đã vi phạm vào quy tắc giao thông đường bộ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật. Bản thân bị cáo là tài xế thường xuyên điều khiển xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo phải nhận thức được khi điều khiển xe ô tô trên đường phải đảm bảo tuyệt đối an toàn, nhưng bị cáo lại điều khiển xe không chú ý quan sát do ngủ gật và đụng vào xe ô tô do ông Nguyễn Văn C điều khiển chở theo bà Nguyễn Thị D ngồi phía sau té ngã cày vào xe của ông Quách Văn O đang dựng bên lề phải làm cho bà D tử vong, từ hành vi cẩu thả của bị cáo để lại hậu quả nghiêm trọng cho bản thân và gia đình bị hại. Về áp dụng pháp luật bị cáo L phạm tội với lỗi vô ý nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội với người trên 70 tuổi theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là không đúng quy định, từ việc áp dụng tình tiết tăng nặng không đúng án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là có phần nghiêm khắc trong khi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện thỏa thuận khắc phục toàn bộ hậu quả cho gia đình người bị hại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; gia đình đơn chiếc, khó khăn; gia đình bị cáo có cậu ruột tên Nguyễn Văn N là liệt sĩ, bác ruột tên Huỳnh Văn E có giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến và đại diện hợp pháp của người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo,

giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [4] Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [5] Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều đúng với quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp. [6] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Văn L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2022/HS-ST, ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn L không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không sửa đổi, bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ