- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Quách Thị Ánh Mai với bị đơn Vũ Huy Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị Ánh M đối với ông Vũ Huy Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày 16-01-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH NH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
Bà Hoàng Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 486/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 241/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 145/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Quách Thị Ánh M, sinh năm 1989. Thƣờng trú: đƣờng T, khu phố 2, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Huy Q, sinh năm 1973. Thƣờng trú: đƣờng T, khu phố 2, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cƣ trú: khu phố Đ, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 6 năm 2022, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Quách Thị Ánh M trình bày:
Bà Quách Thị Ánh M và ông Vũ Huy Q tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 10/5/2012 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01. Thời gian đầu hạnh phúc, đến khoảng năm 2019 bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi, chồng không hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong gia đình. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà M đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhƣng không có kết quả; hai bên gia đình không có ý kiến, để hai vợ chồng tự quyết định. Do hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Hiện nay, bà M và cháu T đang sinh sống tại số 263/16, đƣờng Tô Ngọc Vân, khu phố 2, phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn ông Q và cháu Q đang sinh sống tại nhà không số kế địa chỉ 27/5, khu phố Đông B, phƣờng Đông Hòa, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Bà M đang làm nhân viên văn phòng của Công ty TNHH Đông Lân VN, thu nhập bình quân khoảng 13.000.000 đồng/tháng. Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là cháu Vũ Hoàng Minh Q, sinh ngày 16/8/2012 và cháu Vũ Hoàng Thanh T, sinh ngày 13/01/2016. Nay, bà M không còn tình cảm gì đối với ông Q, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì vậy bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Về hôn nhân: yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Vũ Huy Q.
2. Về con chung: Yêu cầu giao con chung cháu Vũ Hoàng Minh Q, sinh ngày 16/8/2012 cho ông Vũ Huy Q nuôi dƣỡng, bà Quách Thị Ánh M không phải cấp dƣỡng nuôi con. Yêu cầu giao con chung cháu Vũ Hoàng Thanh T, sinh ngày 13/01/2016 cho bà Quách Thị Ánh M nuôi dƣỡng, ông Vũ Huy Q không phải cấp dƣỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Vũ Huy Q nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và ngh a vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Quách Thị Ánh M và ông Vũ Huy Q là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Quách Thị Ánh M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Quách Thị Ánh M khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Vũ Huy Q hiện nay đang cƣ trú tại: khu phố Đ, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Bị đơn ông Vũ Huy Q đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Vũ Huy Q.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Quách Thị Ánh M với bị đơn ông Vũ Huy Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh và đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01 ngày 10/5/2012 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà M trong thời gian chung sống giữa bà M và ông Q thời gian đầu hạnh phúc, đến khoảng năm 2019 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xảy ra tranh cãi, ông Q không hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong gia đình. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn, bà M đã cố gắng hàn gắn quan hệ hôn nhân nhƣng không có kết quả. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Vũ Huy Q tham gia tố tụng nhƣng ông Q vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày trƣớc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông Q vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, ngh a vụ tham gia tố tụng, ngh a vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông Q là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà M yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Q là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà M và ông Q có 02 con chung là cháu Vũ Hoàng Minh Q, sinh ngày 16/8/2012 và cháu Vũ Hoàng Thanh T, sinh ngày 13/01/2016. Bà M yêu cầu giao con chung cháu Vũ Hoàng Minh Q, sinh ngày 16/8/2012 cho ông Vũ Huy Q nuôi dƣỡng, bà Quách Thị Ánh M không phải cấp dƣỡng nuôi con và yêu cầu giao cháu Vũ Hoàng Thanh T, sinh ngày 13/01/2016 cho bà Quách Thị Ánh M nuôi dƣỡng, ông Vũ Huy Q không phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T đang sống chung với bà M, bà M có việc làm và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi con phát triển bình thƣờng; cháu Q đang sống chung với ông Q và có nguyện vọng sống chung với ông Q. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu T cho bà M và cháu Q cho ông Q trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông Q phải cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Quách Thị Ánh M đối với ông Vũ Huy Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Quách Thị Ánh M đƣợc ly hôn với ông Vũ Huy Q (Giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phƣờng L, quận (nay là thành phố) T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/5/2012).
- Về con chung: Giao con chung cháu Vũ Hoàng Thanh T, sinh ngày 13/01/2016 cho bà Quách Thị Ánh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, ông Vũ Huy Q không phải cấp dƣỡng nuôi con. Giao con chung cháu Vũ Hoàng Minh Q, sinh ngày 16/8/2012 cho ông Vũ Huy Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, bà Quách Thị Ánh M không phải cấp dƣỡng nuôi con.
Hai bên đều có quyền và ngh a vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chƣa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và ngh a vụ chung về tài sản: Các đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Bà Quách Thị Ánh M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng đƣợc khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027864 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - VKSND thành phố D (01); - Chi cục THADS thành phố D (01); - Các đƣơng sự (02); - UBND phƣờng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (01); - Lƣu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |