vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - K ly hôn, nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 01 - 2023
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Hậu;

2. Ông Trần Thanh Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 480/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 499/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 470/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1985;

Cư trú: số 207/2C, khóm P, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Trương Thành K, sinh năm 1986;

Cư trú: số 57/1, khóm Đ, phường M1, thành phố X, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa bà L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; ông K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Trương Thành K tự nguyện quen biết nhau, tìm hiểu và sau đó tiến tới hôn nhân. Ông, bà kết hôn từ tháng 12 năm 2020, nhưng không có đăng ký kết hôn. Đến khi bà L mang thai, sinh con xong là tháng 01 năm 2022, để làm được giấy khai sinh cho con thì bà và ông K mới đi đăng ký kết hôn vào tháng 02 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường M1, thành phố X. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng mâu thuẫn từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống. Bà L chung sống với gia đình chồng không được hòa thuận. Ông K thì không quan tâm vợ con, không chăm lo cuộc sống gia đình, làm được bao nhiêu thì cờ bạc, rượu chè. Dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cự cãi. Mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, bà L đã đưa con về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 03 năm 2022. Sau khi bà L và con về nhà mẹ đẻ ở thì ông K có đi lại được thời gian đến tháng 07 năm 2022 thì không còn lên thăm được nữa, vợ chồng không còn nói chuyện được nữa. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà L yêu cầu được ly hôn ông K.

Về con chung: bà L và ông K có 01 con chung là cháu Trương Khả D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2022, cháu từ khi sinh ra đến nay là ở với bà L, do bà L chăm sóc. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu D, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà và ông K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trương Thành K: không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ về việc giải quyết vụ án.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng đương sự vắng mặt nên không thể hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa, bà L vắng mặt và có đơn yêu cầu vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. ông K vắng mặt và không cung cấp thêm ý kiến, tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Trương Thành K vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bà và phải chịu hậu quả theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: về quan hệ hôn nhân: bà L và ông K tự nguyện quen biết tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau thì không còn hạnh phúc nữa và hiện nay đã không còn sống chung với nhau. Bà L kiên quyết xin ly hôn, ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Điều này cho thấy mâu thuẫn của bà L, ông K đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L ly hôn với ông K. Về con chung: bà L và ông K có một con chung là cháu Trương Khả D, sinh năm 2022 hiện nay dưới 36 tháng tuổi và do bà L nuôi dưỡng; nên đề nghị giao con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Trương Thành K kết hôn có đăng ký kết hôn; bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, còn ông K là người có địa chỉ cư trú trên địa bàn thành phố X. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang.

Về thủ tục tố tụng: ông Trương Thành K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông K vẫn vắng mặt không lý do. Bà Nguyễn Thị Thúy L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Trương Thành K tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M1, thành phố X, tỉnh An Giang. Bà L kiên quyết xin ly hôn vì bà cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm, ông K không cùng bà chăm lo kinh tế, chăm sóc vợ con, nên bà không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông K. Về phía ông K đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp ý kiến hoặc tài liệu, chứng cứ, điều này thể hiện ông K không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình. Thực tế, ông K và bà L đã không còn chung sống từ đầu năm 2022 đến nay. Xét thấy: Để cuộc sống gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được thì vợ chồng phải có tình cảm tự nguyện từ hai phía, chung thủy, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng phải chung tay cùng nhau xây dựng tổ ấm. Nhưng bà L và ông K đều không thực hiện được những điều này để cuộc sống gia đình được hạnh phúc, hôn nhân bền vững, mục đích hôn nhân đạt được. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung và cấp dưỡng cho con chung: bà L xác định bà và ông K có một con chung là cháu Trương Khả D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2022 hiện đang do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng; và bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Còn ông K cũng không cung cấp ý kiến về những vấn đề này. Xét thấy: cháu Trương Khả D hiện nay dưới 36 tháng tuổi và do bà L nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi chào đời đến nay. Do đó, cần ổn định việc nuôi con để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của cháu Trương Khả D, tạo điều kiện cho cháu phát triển bình thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà L cho rằng bà tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông K cũng không cung cấp ý kiến về vấn đề này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: bà L phải chịu án phí trong vụ án hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 227; 228; 238; 266; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 19; 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116; 117; 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với ông Trương Thành K.

2. Về con chung:

Bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Trương Thành K có 01 (một) con chung là cháu Trương Khả D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2022.

Bà Nguyễn Thị Thúy L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục cháu Trương Khả D.

Bà Nguyễn Thị Thúy L và thành viên gia đình không được cản trở ông Trương Thành K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Khả D.

Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Ông Trương Thành K không phải cấp dưỡng cho cháu Trương Khả D.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng cho con chung có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nêu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung:

Không xem xét.

4. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000980 ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố X (đã nộp xong).

5. Về quyền kháng cáo:

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ