- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/5/2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Triệu Thị Xuân. 2. Bà Hoàng Thị Thúy. Thƣ ký phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2023/TLST - HNGĐ ngày 27/3/2023 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Chị Hồ Thị NĐ– Sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm A, xã B, huyện V, Thái Nguyên. Dân tộc: Nùng; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt) * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn BĐ– Sinh năm 1989. Địa chỉ: Xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Dân tộc: Kinh; Văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Tự do. (Vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Hồ Thị NĐ trình bày: Chị khởi kiện anh Nguyễn Văn BĐ – Địa chỉ: Xóm A, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, lý do xin ly hôn. Chị và anh Nguyễn Văn BĐ lấy nhau hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn với nhau năm 2009 tại UBND xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013. Về tài sản chung: Chị không kê khai và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Anh chị không vay ai và cho ai vay. Về nguyên nhân xin ly hôn: Ban đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, từ năm 2019 đến nay luôn bất đồng quan điểm, nhiều mâu thuẫn, anh BĐ không tu trí làm ăn lại dọa đánh đập chị. Nay chị không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa nên xin ly hôn anh BĐ. Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi 02 con chung là Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013, nếu được nuôi con chị không yêu cầu anh BĐ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Theo biên bản lấy lời khai bị đơn anh Nguyễn Văn BĐ trình bày: Anh bị chị Hồ Thị NĐ– cùng địa chỉ, khởi kiện xin ly hôn. Anh và chị Hồ Thị NĐ kết hôn với nhau năm 2009 và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống anh và chị NĐ có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Anh chị không vay ai và cho ai vay. Về nguyên nhân là do chị NĐ có quan hệ với người đàn ông khác nên tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị NĐ xin ly hôn anh mong muốn chị NĐ về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Trường hợp Tòa án buộc anh và chị NĐ ly hôn, về con anh có nguyện vọng trực tiếp được nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013, nếu được nuôi con anh không yêu cầu chị NĐ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị NĐ, yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Văn BĐ.
- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hồ Thị NĐ được ly hôn anh Nguyễn Văn BĐ.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013 cho anh Nguyễn Văn BĐ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NĐ vì anh BĐ không yêu cầu. Anh BĐ và chị NĐ có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị NĐ phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình, về việc ly hôn giữa chị Hồ Thị NĐ và anh Nguyễn Văn BĐ. [2] Về tư cách chủ thể: Chị Hồ Thị NĐ khởi kiện anh Nguyễn Văn BĐ nên chị Hồ Thị NĐ là nguyên đơn, anh Nguyễn Văn BĐ là bị đơn trong vụ án. [3] Về yêu cầu xin ly hôn của chị NĐ: Chị NĐ và anh BĐ kết hôn năm 2009, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên nên hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013. Về nguyên nhân ly hôn: Theo chị NĐ ban đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, từ năm 2019 đến nay luôn bất đồng quan điểm, nhiều mâu thuẫn, anh BĐ không tu trí làm ăn lại dọa đánh đập chị. Nay chị không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này nữa nên xin ly hôn anh BĐ. Theo anh BĐ nguyên nhân là do chị NĐ có quan hệ với người đàn ông khác nên tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân. Theo biên bản xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp ly hôn của Tòa án tại gia đình xác định giữa anh BĐ và chị NĐ có mâu thuẫn từ lâu, kéo dài, gia đình đã khuyên F1 nhưng hai vợ chồng không thể hòa thuận, chị NĐ đã đi làm việc tự do thi thoảng về bên ngoại ở, chị NĐ và anh BĐ đã không còn sống chung với nhau một thời gian. Xét cuộc hôn nhân giữa chị NĐ và anh BĐ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị NĐ với anh BĐ. [4] Về con chung: Chị NĐ và anh BĐ có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013. Cả hai bên đương sự đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và không yêu cầu bên không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng. Tòa án đã tiến hành lấy nguyện vọng của các cháu Nguyễn Văn F1 và cháu Nguyên Thị F2, các cháu đều có nguyện vọng ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm F1 quyền lợi tốt nhất cho các cháu, cần giao cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013 cho anh Nguyễn Văn BĐ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NĐ vì anh BĐ không yêu cầu. Chị NĐ và anh BĐ có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định. [5] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết. [6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Chị Hồ Thị NĐ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. [7] Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên tòa là phù hợp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238 và 235 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: 1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Hồ Thị NĐ được ly hôn anh Nguyễn Văn BĐ. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn F1 – Sinh ngày 21/7/2010 và cháu Nguyễn Thị F2 - Sinh ngày 31/01/2013 cho anh Nguyễn Văn BĐ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị NĐ vì anh BĐ không yêu cầu. Chị NĐ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh BĐ cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở chị NĐ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Văn F1 và cháu Nguyễn Thị F2. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Chị Hồ Thị NĐ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Hồ Thị NĐ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0003487 ngày 27 tháng 3 năm 2023. (Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.) Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Võ Nhai; - UBND xã B; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Kim Tuấn |