- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN TỈNH KH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 4 năm 2023 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN - TỈNH KH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ
- Các Hội thẩm nhân dân:
. Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
. Bà Vũ Thị Kim Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN, tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông Trần Nam Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 235/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thúy L - sinh năm: 1978; hộ khẩu thường trú: Thôn TN, xã VK, huyện VN, tỉnh KH; chỗ ở hiện nay: Thôn PC 1, xã VP, huyện VN, tỉnh KH. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn L1 - sinh năm: 1976; trú tại: Thôn TN, xã VK, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14/10/2022, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 14/11/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị Thúy L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Thúy L và anh Hoàng Văn L1 tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2000 và đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 9 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã VK, huyện VN, tỉnh KH theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01/2001. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, không hiểu và tôn trọng nhau nên thường hay cãi vã, xúc phạm nhau. Anh L1 ham nhậu nhẹt, không quan tâm gì đến gia đình, vợ con, mỗi lần chị L khuyên nhủ thì anh L1 lại chửi bới, đánh đập. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng nên hơn một năm nay vợ chồng đã sống riêng, mạnh ai nấy sống, không ai hỏi han, quan tâm chăm sóc gì ai. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa. Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn L1.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Hoàng Trương B - sinh ngày 20/8/2000 và Hoàng Nhật N - sinh ngày 03/11/2009. Con chung Hoàng Trương B đã đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay con chung Hoàng Nhật N đang sống với chị L. Chị L yêu cầu giải quyết được tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Nhật N cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Hoàng Văn L1 để trình bày ý kiến về việc chị L khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh L1 đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của anh L1, không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị Thúy L yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn L1 - trú tại: Thôn TN, xã VK, huyện VN, tỉnh KH nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH. Bị đơn anh Hoàng Văn L1 đã được Tòa án nhân dân huyện VN triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn L1.
Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn anh Hoàng Văn L1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của chị L và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa chị Trương Thị Thúy L và anh Hoàng Văn L1 là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 76, quyển số 01/2001 ngày 07 tháng 9 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xã VK, huyện VN, tỉnh KH, nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh L1 là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của chị L thì vợ chồng chị L, anh L1 hiện nay không còn sống chung, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh L1 đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng anh L1 đều không có mặt, chứng tỏ anh L1 không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị L và anh L1 theo chị L trình bày là do tính tình vợ chồng không hợp, không hiểu nhau. Anh L1 còn ham mê nhậu nhẹt, không quan tâm gì đến gia đình. Những điều này làm cho vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hơn một năm nay, vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa hai người đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị L.
Về con chung: Chị L, anh L1 có có 02 (hai) con chung là Hoàng Trương B
- sinh ngày 20/8/2000 và Hoàng Nhật N - sinh ngày 03/11/2009. Con chung Hoàng Trương B đã đủ 18 tuổi nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị L có yêu cầu được nuôi con chung Hoàng Nhật N, không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Con chung Hoàng Nhật N hiện đang do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu N có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy việc giao cho chị L được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Nhật N là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị L. Chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Trương Thị Thúy L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Trương Thị Thúy L xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.
Bị đơn anh Hoàng Văn L1 mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh L1.
Về án phí: Chị Trương Thị Thúy L L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Trương Thị Thúy L được ly hôn với anh Hoàng Văn L1.
2. Về con chung:
Con chung Hoàng Trương B - sinh ngày 20 tháng 8 năm 2000 đã đủ 18 (mười tám) tuổi nên chị Trương Thị Thúy L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Giao con chung Hoàng Nhật N - sinh ngày 03 tháng 11 năm 2009 cho chị Trương Thị Thúy L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.
Chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị L, anh L1 có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trương Thị Thúy L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003603 ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VN; chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh KH; - VKSND tỉnh Khánh Hoà; - VKSND huyện VN ; - Chi cục THA huyện VN; (Sau khi án có hiệu lực pháp luật) - Ủy ban nhân dân xã VK; - Các đương sự; - Lưu vụ án; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Tuyết Mỹ |