vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về mặt tình cảm: Xử cho chị Phạm Hoàng A được ly hôn với anh Trần Phước H.

Về con chung: Xử giao chị Phạm Hoàng A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Đăng Trí, sinh ngày 21/09/2020. Anh Trần Phước H cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu T đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn Phạm Hoàng A với trần Phước H"
  • Tòa quyết gì? Về mặt tình cảm: Xử cho chị Phạm Hoàng A được ly hôn với anh Trần Phước H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU PHONG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06/7/2023.

V/v “Ly hôn, tranh chấp về

NHÂN DANH

nuôi con”.

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Quang Dưỡng.

2. Bà Lê Thị Thúy Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Liễn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 52/2023/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐ-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Hoàng A, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Phước H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Tả Hữu, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/3/2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Hoàng A trình bày:

Chị Phạm Hoàng A và anh Trần Phước H yêu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị vào ngày 13/3/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ chị Atại thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, đến tháng 6 năm 2020 vợ chồng vào thành phố Đà Nẵng làm ăn sinh sống. Đến năm 2021 do đại dịch Covit-19 nên anh H về sinh sống với bố mẹ anh H tại thôn Tả Hữu, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị còn chị Anh về sinh sống với bố mẹ chị A tại thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị và từ đó đến nay, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống về suy nghĩ, không thể thống nhất với nhau nên cuộc sống vợ chồng ngột ngạt, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay, không liên lạc với nhau, trừ khi có vấn đề liên quan đến giấy tờ hay liên quan đến con cái mới liên lạc với nhau. Vì vậy, chị A thấy tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện, mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không ai quan tâm đến ai nữa nên chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị A được ly hôn với anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Đăng T, sinh ngày 21/09/2020, hiện đang sinh sống với chị A. Nếu ly hôn, chị A đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tí và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu Trí đến tuổi thành niên và có khả năng lao động.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 31/3/2023, bị đơn anh Trần Phước Hậu trình bày:

Về tình cảm anh H đồng ý ly hôn với chị A, về con chung giao cháu cháu Trần Đăng T, sinh ngày 21/09/2020 cho chị Anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh H đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Trí mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu T đến tuổi thành niên và có khả năng lao động.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị: Xử cho chị Phạm Hoàng A được ly hôn với anh Trần Phước H. Về con chung: Giao cháu Trần Đăng T, sinh ngày 21/09/2020 cho chị A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Hậu cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu T đến tuổi thành niên và có khả năng lao động. Về tài sản chung; nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Hoàng A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và Trần Phước H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 21/3/2023, Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong thụ lý vụ án và đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho chị Phạm Hoàng A và anh Trần Phước H. Trong thời hạn quy định, anh Trần Phước H có bản trình bày gửi đến Tòa án, Tòa án thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 11/4/2023 và ngày 26/4/2023 và tống đạt thông báo hợp lệ cho chị A và anh H, tuy nhiên anh H vắng mặt không có lý do nên Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với sự chứng kiến của chị A và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ gửi cho anh Hậu. Ngày 02/6/2023, Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và ấn định thời gian mở phiên tòa vào ngày 22/6/2023. Tại phiên tòa chị A có mặt, riêng anh H vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa và ấn định xét xử lại vào ngày 06/7/2023. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Phạm Hoàng A có mặt, bị đơn anh Trần Phước H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Phước H có nơi cư trú tại thôn Tả Hữu, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ Hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Hoàng A và anh Trần Phước H là hôn nhân hợp pháp, yêu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị vào ngày 13/3/2020. Theo chị A trình bày, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không cùng suy nghĩ, không có tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng ngột ngạt, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay. Tại bản trình bày ý kiến, anh H đồng ý ly hôn với chị A; qua xác minh tại chính quyền địa phương thì anh H và chị A sống ly thân từ năm 2022 đến nay, chị A sinh sống với bố mẹ chị A tại thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị còn anh H sống với bố mẹ anh H tại thôn Tả Hữu, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung của hai vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hai vợ chồng hiện sống ly thân nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị Phạm Hoàng A với anh Trần Phước H có một con chung là cháu Trần Đăng T, sinh ngày 21/09/2020 hiện đang sinh sống với chị A. Nếu ly hôn, chị A đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T; anh H cũng đồng ý theo yêu cầu của chị An Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc giao con cho ai trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là xem xét đến điều kiện của bố, mẹ và khả năng phát triển cũng như quyền lợi về mọi mặt của con chung; thấy rằng hiện tại chị A có việc làm ổn định, cháu A hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ và hiện đang sinh sống với chị A. Anh H trình bày ý kiến cũng đồng ý giao cháu Trần Đăng T, sinh ngày 21/09/2020 cho chị A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, cần giao cháu Trần Đăng T, sinh ngày 21/09/2020 cho chị Phạm Hoàng A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; về cấp dưỡng nuôi con, căn cứ vào công việc, tình hình thu nhập thực tế, cần buộc anh Trần Phước H phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Đăng T mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu Trí thành niên và có khả năng lao động là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Hoàng A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; anh Trần Phước H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Về mặt tình cảm: Xử cho chị Phạm Hoàng A được ly hôn với anh Trần Phước H.

2. Về con chung: Xử giao chị Phạm Hoàng A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Đăng Trí, sinh ngày 21/09/2020. Anh Trần Phước H cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu T đến tuổi thành niên và có khả năng lao động.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở trong việc thăm nom con chung. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền cấp dưỡng nói trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

Buộc chị Phạm Hoàng A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000388 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chị Phạm Hoàng Anh đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Buộc anh Trần Phước H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ