vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thế B.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Nguyễn Thế Anh, sinh ngày 04/12/2018, cho chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thị Bảo Anh, sinh ngày 14/8/2015 cho anh Nguyễn Thế B trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thế B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/02/2023
V/v tranh chấp: " Hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú, bà Nguyễn Thị Hiền Lương.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thỏa. Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà; Nguyễn Thị Phương Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 171/2022/TLST-HNGĐ, ngày 03/11/2022, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXX-ST, ngày 27/01/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị; Đinh Thị T, sinh năm 1999. Địa chỉ: Xóm Sướn, xã TĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt

2. Bị đơn: Anh; Nguyễn Thế B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, chị Đinh Thị T trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Đinh Thị T kết hôn với anh Nguyễn Thế B vào ngày 12/6/2017 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn thì 2 vợ chồng sống tại nhà ông bà nội là Nguyễn Thế Tự ở xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tình cảm vợ chồng sau khi cưới hạnh phúc bình thường, đến tháng 5/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp và hay đánh vợ; nên chị Đinh Thị T đã về bên ngoại ở xã TĐ, huyện Thanh Chương và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên xin được ly hôn anh Nguyễn Thế B.

- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Bảo Anh, sinh ngày 14/8/2015 và cháu Nguyễn Thế Anh, sinh ngày 04/12/2018.

Nay ly hôn chị Đinh Thị T xin được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thế Anh, còn để cho anh Nguyễn Thế B nuôi cháu Nguyễn Thị Bảo Anh.

- Về tài sản và nợ: Chị Đinh Thị T không có ý kiến hay yêu cầu gì Tòa án giải quyết.

Ngoài các ý kiến trên chị Đinh Thị T không có thêm bất cứ ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, song anh Nguyễn Thế B vắng mặt, cho nên không thực hiện được việc công khai chứng cứ và hòa giải. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 23/11/2022, anh Nguyễn Thế B trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thế B kế hôn với chị Đinh Thị T vào ngày 12/6/2017 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TĐ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn thì 2 vợ chồng sống tại nhà ông bà nội là ở xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An khoảng 3 – 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, nên bên nhà ngoại đã đưa ô tô đến đón chị Đinh Thị T về bên ngoại kể từ đó cho đến nay. Nay chị Đinh Thị T xin ly hôn, hoàn toàn nhất trí.

- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Bảo Anh, sinh ngày 14/8/2015 và cháu Nguyễn Thế Anh, sinh ngày 04/12/2018.

Nay ly hôn chị Đinh Thị T xin được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thế Anh, còn để cho anh nuôi cháu Nguyễn Thị Bảo Anh, thì anh hoàn toàn nhất trí và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Về tài sản và nợ: Anh Nguyễn Thế B không có ý kiến hay yêu cầu gì Tòa án giải quyết.

Ngoài các ý kiến trên anh Nguyễn Thế B không có thêm bất cứ ý kiến hay yêu cầu gì thêm. Anh Nguyễn Thế B xin phép được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thế B; về con cái: giao cháu Nguyễn Thế Anh cho chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Thị Bảo Anh cho anh Nguyễn Thế B trực tiếp nuôi dưỡng; về tài sản không xem xét; chị Đinh Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn để công khai chứng cứ và hòa giải, song do anh Nguyễn Thế B vắng mặt, cho nên không thể thực hiện việc hòa giải và công khai chứng cứ. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, bị đơn vắng mặt, nhưng đã có ý kiến xin xử vắng mặt; cho nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Cuộc hôn nhân giữa chị Đinh Thị T và anh Nguyễn Thế B, được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 12/6/2017 tại UBND xã TĐ, huyện Thanh Chương. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung cùng ông bà nội ở xóm Liên Chung, xã PT, huyện Thanh Chương. Vợ chồng sống tình cảm bình thường đến tháng 5/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị Đinh Thị T vẫn nhất quyết xin ly hôn, còn anh Nguyễn Thế B vắng mặt, nhưng cũng nhất trí ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Đinh Thị T, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thế B.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng thống nhất có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Bảo Anh, sinh ngày 14/8/2015 và cháu Nguyễn Thế Anh, sinh ngày 04/12/2018.

Hai đương sự thống nhất chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi cháu Thế Anh, còn anh Nguyễn Thế B trực tiếp nuôi cháu Bảo Anh; xét thấy đây là sự tự nguyện của hai bên, phù hợp với nguyện vọng của các con, nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xem xét giải quyết về phần tài sản.

Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên ;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; 56; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thế B.

2. Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Nguyễn Thế Anh, sinh ngày 04/12/2018, cho chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thị Bảo Anh, sinh ngày 14/8/2015 cho anh Nguyễn Thế B trực tiếp nuôi dưỡng.

Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về chia tài sản chung: Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí xin ly hôn. Chị Đinh Thị T, được trừ đi 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009240 ngày 03/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ