vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14…

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị M ly hôn anh Nguyễn Văn Q. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Thanh sinh ngày 12 tháng 10 năm 2012 cho chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị M - Nguyễn Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15-3-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Đỗ Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện VKSND huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 238/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2022 về việc kiện “ Xin Ly hôn; nuôi con chung”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M - sinh năm 1990

Nơi cư trú: Thôn Vị Dương Đ, xã Dương Hồng T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q - sinh năm 1989

Nơi cư trú: Thôn Vị Dương Đ, xã Dương Hồng T, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

(Chị M, anh Q có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn chị Phạm Thị M trình bày tại phiên tòa và có yêu cầu khởi kiện như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Q sau thời gian tìm hiểu đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân H, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ngày 28 tháng 11 năm 2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình nhà mẹ đẻ chị tại xã Dương Hồng T. Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Q có mối quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Chị thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng chị đã trầm trọng hai bên không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q để cả hai ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Q có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Th1, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2012, hiện cháu đang học tại Trường Tiểu học và THCS xã Thái Hồng. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Hoàng Th1 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, hiện tại chị có chỗ ở và công việc với mức thu nhập ổn định. Cháu Nguyễn Hoàng Thanh cũng có đơn xin ở với mẹ. Chị không yêu cầu anh Q góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, ta ̣i phiên tòa bị đơn - anh Nguyễn Văn Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Q xác nhận thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như chị M trình bày là đúng. Anh và chị Phạm Thị M là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND xa Tân Học, huyê ̣̃

n Thái Thu ̣y, tỉnh Thái Binh vào ngày

̀ 28 tháng 11 năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở gia đình nhà mẹ đẻ chị M bên xã Dương Hồng T, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không hiểu và không chia sẻ cho nhau. Nay chị M làm đơn xin ly hôn, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đồng ý ly hôn chị M.

Về con chung: Anh và chị M có 01 người con chung, tên là Nguyễn Hoàng Thanh, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2012. Ly hôn anh nhất trí để chị M trực tiếp nuôi con chung theo nguyện vọng của con nếu chị M không nuôi anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử cho chị M được ly hôn anh Q; Về con chung: Vợ chồng chị M, anh Q có 01 con chung, tên là Nguyễn Hoàng Thanh, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2012, hiện đang sống cùng chị M, đề nghị HĐXX giao con chung cho chị M nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển ổn định của con chung; Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận việc chị M không yêu cầu anh Q góp cấp dưỡng nuôi con chung; Anh Q có quyền thăm nom chăm sóc con chung; Việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật. Về quan hệ tài sản: Chị M không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn Q - bi ̣ đơn có nơi cư trú ta ̣i xa Dương̃ Hồng T, huyê ̣n Thái Thu ̣y, tỉnh Thái Binh vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân

̀

gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Học, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình vào ngày 28 tháng 11 năm 2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên sống xa nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Qua xác minh ta ̣i UBND xa Dương̃ Hồng T, chinh quyền đi ̣a phương xác nhâ ̣n chi ̣ M và anh Q có mâu thuẫn hiện tại

́ vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị M và anh Q mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị M được ly hôn anh Q là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Văn Q đều xác định vợ chồng có có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Thanh, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2012 hiện đang sống cùng chị M. Xét nguyện vọng và điều kiện của các đương sự trong vụ án cũng như xét đến sự phát triển ổn định của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn và nhân gia đình, Hội đồng xét xử thấy hiện tại chị Phạm Thị M có chỗ ở và công việc với mức thu nhập ổn định. Cháu Nguyễn Hoàng Thanh đang sinh sống cùng chị M và có nguyện vọng ở với mẹ. Hiện nay cháu đang học tại Trường tiểu học và Trung học cơ sở Thái Hồng, hiện tại cháu đang có sự ổn định về thể chất và tinh thần nên để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung, giao cháu Nguyễn Hoàng Thanh cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận việc chị M không yêu cầu anh Q góp cấp dưỡng nuôi con. Anh Q có quyền thăm nom, chăm sóc, giao dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị M và anh Q đều xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.

Về án phí: Chị M phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị M ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Thanh sinh ngày 12 tháng 10 năm 2012 cho chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phạm Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Văn Q góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn Q có quyền thăm nom chăm sóc con chung. Anh Nguyễn Văn Q và chị Phạm Thị M có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung khi cần thiết.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ chị M đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0 00 4 3 34 ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị M, anh Nguyễn Văn Q có mă ̣t ta ̣i phiên tò a, có quyề n khá ng cá o bả n á n trong thờ i ha ̣n 15 ngà y kể từ ngà y tuyên á n15 tháng 3 năm 2023 .

Cỡ chữ