- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/5/ 2023 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Công Hiến.
Ông H Xuân Ninh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tiến Hnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 132/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Kh, sinh năm 1985.
- Bị đơn: anh Trần Văn H, sinh năm 1984.
Đều cư trú tại: thôn N, xã Gtr, huyện GV, tỉnh NB.
Chị Kh có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 12 năm 2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Kh trình bày: Chị và anh Trần Văn H được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26/02/2008 tại UBND xã Gtr, huyện GV, tỉnh NB. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi cọ và va chạm với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách để hoà giải Hn gắn nhưng không được. Hiện nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải Hn gắn được nên chị làm đơn đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn H.
Về con chung: Chị Trần Thị Kh và anh Trần Văn H có ba con chung là cháu Trần Tuấn T, sinh ngày 25/5/2009; cháu Trần Tuấn Đ, sinh ngày 16/4/2012 và cháu Trần Thị N Y, sinh ngày 25/12/2021. Khi ly hôn chị Kh đề nghị được nuôi cả ba cháu. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kh không đề nghị anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Kh xác định vợ chồng tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt và thông báo hợp lệ văn bản tố tụng nhưng anh H đã không đến Tòa án làm việc.
Toà án tiến Hnh thu thập tài liệu chứng cứ tại thôn N, xã GTr; tại UBND xã GTr; xác minh nơi cư trú tại công an xã GTr; kết quả xác nhận: anh Trần Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn N, xã Gtr, huyện GV, tỉnh NB; anh H đi lái tàu nhưng cũng thường xuyên trở về nH, còn chị Kh ở nH làm xưởng may của gia đình dẫn đến anh H nghi ngờ chị Kh có mối quan hệ tình cảm với người khác. Khoảng một năm nay thì chị Kh và anh H ít chung sống, tiếp xúc với nhau. Anh H đi làm về nH thì chị Kh ra xưởng may ở còn anh H ra xưởng may thì chị Kh lại về nH ở. Trong quá trình chung sống chị Kh và anh H có ba con chung là cháu Trần Tuấn T, sinh năm: 2009; cháu Trần Tuấn Đ, sinh năm: 2012 và cháu Trần Thị N Y, sinh năm: 2022. Bản thân chị Kh và anh H đều là lao động tự do vì không xác định được thu nhập cụ thể của chị Kh và anh H nên căn cứ theo mức thu nhập trung bình trên địa bàn xã năm 2022 là 51.000.000 đồng/năm tương ứng với 4.250.000 đồng/tháng.
Nguyên đơn chị Trần Thị Kh có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn H vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn trình bày ý kiến việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Xử cho chị Trần Thị Kh được ly hôn anh Trần Văn H; Về con chung đề nghị giao ba cháu Trần Tuấn T, Trần Tuấn Đ và Trần Thị N Y cho chị Trần Thị Kh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; anh H không phải đóng góp tiền nuôi con chung, không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung; chị Kh phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Kh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Trần Văn H có nơi cư trú tại: xã Gtr, huyện GV, tỉnh NB. Quá trình tố tụng, vụ việc được chuyển sang thủ tục hòa giải đối thoại tại Tòa án, tuy nhiên việc hòa giải, đối thoại đã chấm dứt theo khoản 3 Điều 40 Luật Hòa giải Đối thoại tại Tòa án. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Tòa án đã tiến Hnh cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177; Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Trần Văn H. Anh Trần Văn H vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Chị Trần Thị Kh có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Văn H vắng mặt không có lý do lần thứ 2 tại phiên tòa nên Tòa án tiến Hnh xét xử vắng mặt chị Kh, anh H theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Kh và anh Trần Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyên kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Gtr, huyện GV, tỉnh NB vào ngày 26/02/2008. Việc kết hôn của chị Kh, anh H đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị Trần Thị Kh và anh Trần Văn H là hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như trình bày của chị Kh tại Tòa án, xác định quá trình chung sống chị Kh và anh H hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống và cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không tin tưởng nhau trong tình cảm. Thực tế chị Kh và anh H đã sống ly thân hoàn toàn trong thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Anh H mặc dù đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án, đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án làm việc, hòa giải đoàn tụ vợ chồng nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt, không tham gia các buổi làm việc, hòa giải. Như vậy, chứng tỏ anh H không có thiện chí, không hợp tác để Tòa án hòa giải mâu thuẫn, Hn gắn quan hệ vợ chồng.
Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Trần Thị Kh và anh Trần Văn H đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Kh.
. Về con chung: Qua trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ xác định chị Kh và anh H có ba con chung là cháu Trần Tuấn T, sinh ngày 25/5/2009; cháu Trần Tuấn Đ, sinh ngày: 16/4/2012 và cháu Trần Thị N Y, sinh ngày: 25/12/2021. Khi ly hôn chị Kh muốn được trực tiếp nuôi cả ba con chung và không đề nghị anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Xét thấy bản thân chị Kh và anh H đều không vi phạm nghĩa vụ làm cha, mẹ đối với con của mình và anh chị đều là người có đủ điều kiện sức khỏe, có khả năng tạo ra thu nhập và các điều kiện khác để chăm con chung thật tốt. Tuy nhiên, xét thấy các cháu còn nhỏ tính chất công việc của chị Kh chủ yếu làm tại nH nên có nhiều thời gian dành cho con cái; chị Kh cũng chăm sóc cho các cháu rất tốt, đảm bảo các điều kiện cho các cháu học tập và phát triển; cháu Như Ý chưa đủ 36 tháng tuổi; cháu Tú và cháu Đạt đều có nguyện vọng được ở với chị Kh. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu cần giao cho chị Trần Thị Kh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Tuấn T, Trần Tuấn Đ và Trần Thị N Y là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng cho con: chị Kh là người có đủ khả năng lao động và có thu nhập ổn định nên chị Kh có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Trong yêu cầu khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án chị Kh giữ nguyên quan điểm không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con; Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp, cần được chấp nhận.
Về tài sản và công nợ chung: chị Kh xác định tự thoả thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H vắng mặt không có ý kiến gì vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.
Về án phí: Chị Trần Thị Kh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kh.
1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Trần Thị Kh được ly hôn với anh Trần Văn H.
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Kh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Tuấn T, sinh ngày 25/5/2009; cháu Trần Tuấn Đ, sinh ngày: 16/4/2012 và cháu Trần Thị N Y, sinh ngày: 25/12/2021 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Trần Thị Kh.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trần Thị Kh xác định vợ chồng tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị Kh phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Kh đã nộp tại Chi cục Thi Hnh án dân huyện Gia Viễn theo biên lai số AA/2021/0004230 ngày 29/12/2022.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật Thi Hnh án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hnh án dân sự”.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Gia Viễn; - Chi cục THADS huyện Gia Viễn; - UBND xã GTr; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Hoàng Giáp |